Happy Birthday Yoona- SNSD

Key Royal- エーケービー フォーティーエイト

Key Yuko

エーケービー フォーティーエイト

Key Yuko

エーケービー フォーティーエイト

YulSic is Real

エーケービー フォーティーエイト

Key Yuko

エーケービー フォーティーエイト

Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2016

Đồ án cơ sở dữ liệu phân tán quản lý cửa hàng bánh kẹo

Cơ Sở Dữ Liệu Phân Tán 1.4.2.3. GVHD: Trần Thanh Hùng Phân mảnh hỗn hợp Trong đa số các trường hợp, phân mảnh ngang hoặc phân mảnh dọc đơn giản cho một lược đồ CSDL không đủ đáp ứng các yêu cầu từ ứng dụng. Trong trường hợp đó phân mảnh dọc có thể thực hiện sau một số mảnh ngang hoặc ngược lại, sinh ra một lối phân hoạch có cấu trúc cây. Bởi vì hai chiến lược này được áp dụng lần lượt, chọn lựa này được gọi là phân mảnh hỗn hợp. 1.5. Hệ Quản trị cơ sở dữ liệu SQL server Hệ quản trị cơ sở dữ liệu phân tán là một hệ thống cho phép tạo lập CSDL phân tán và điều khiển mọi truy nhập đối với CSDL phân tán này. Đặc biệt hệ phải đảm bảo sự phân tán DL là trong suốt đối với người sử dụng(người sử dụng sẽ không biết được nó là Dữ liệu phân tán hay không là dữ liệu phân tán). - Các tác vụ chương trình của DBMS(hệ quản trị cơ sở dữ liệu): + tập chương trình quản trị CSDL địa phương(quản trị CSDL tại máy trạmDBMS địa phương) + Tập chương trình giá trị CSDL phân tán. + Tập chương trình giá trị truyền thông dữ liệu, từ điển dữ liệu: từ điển dữ liệu chứa thông tin về kho DL, thông tin phân tán, các chi tiết liên quan. =>Các thao tác, yêu cầu ở các trạm khác nhau -> cập nhật vào từ điển. 1.6. Cơ sở dữ liệu phân tán thuần nhất và không thuần nhất Nhóm 1:KTPM2-K6 Trang 11 Cơ Sở Dữ Liệu Phân Tán GVHD: Trần Thanh Hùng Sơ đồ tổng thể Sơ đồ phân đoạn Sơ đồ sắp chỗ Sơ đồ ánh xạ địa phương 1 Sơ đồ ánh xạ địa phương 2 Sơ đồ sắp chỗ Sơ đồ sắp chỗ DBMS1 DBMS2 Trạm1 Trạm2 - CSDL phân tán thuần nhất: CSDL phân tán được thiết kế bằng cách chia nhỏ một cơ sở dữ liệu xí nghiệp thành các CSDL địa phương, các CSDL địa phương đó được định vị trên các trạm làm việc khác nhau, tất cả các CSDL địa phương được biểu diễn bởi một mô hình DL. - CSDL không thuần nhất: từ các dữ liệu đã có, Mô hình DL, DBMS có thể khác nhau, được thiết kế bằng cách thiết kế hệ CSDL phân tán từ các CSDL địa phương hiện đang tồn tại, hoạt động. Nhóm 1:KTPM2-K6 Trang 12 Cơ Sở Dữ Liệu Phân Tán GVHD: Trần Thanh Hùng => Tại sao phải có 2 hướng tiếp cận khác nhau? - CSDL phân tán thuần nhất: tiếp cận từ trên xuống vì tất cả các trạm đều xây dựng một mô hình như nhau, giống hệt nhau ->xây dựng từ trên xuống, thiết kế phân tán ngay từ đầu. - CSDL phân tán không thuần nhất: do mỗi trạm xây dựng một cách khác nhau -> kết hợp lại với nhau thành hệ phân tán, phù hợp với hệ thống kế thừa từ những cơ sở vật chất có sẵn. CSDL phân tán không thuần nhất có nhiều vẫn đề cần xử lý do không có sự đồng bộ CSDL ở các trạm. 1.7. Lợi ích của các hệ CSDL phân tán - Là giải pháp thích hợp với các xí nghiệp có cơ cấu tổ chức kinh tế phi tập trung. - Giảm chi phí truyền thông. - Đáp ứng được với sự tăng trưởng. - Tính riêng tư và an toàn cao. - Độ tin cậy cao - Hiệu năng tăng lên - ......... => CSDL phân tán = CSDL hợp nhất + mạng phân tán Chương II MÔ TẢ HỆ THỐNG QUẢN LÝ PHÂN PHỐI BÁNH KẸO 2.1. Giới thiệu tổng quan Với một khối lượng bánh kẹo lớn tại các đại lý, việc phân phối các mặt hàng là điều rất khó. Mục đích của việc nghiên cứu hệ thống là để phát hiện những nhu cầu về một hệ thống mới, hoặc nhận xét về hệ thống đang sử dụng. Nhóm 1:KTPM2-K6 Trang 13 Cơ Sở Dữ Liệu Phân Tán GVHD: Trần Thanh Hùng Giai đoạn này liên quan đến việc nghiên cứu các nhu cầu thông tin của nhà quản lý, tìm các nguồn cung cấp thông tin này và phác họa các bước cùng các phương pháp cần thiết để biến các số liệu này thành hình thức hữu dụng. Giai đoạn này gồm cả việc rà soát tỏ chức doanh nghiệp, các bảng mô tả công tác và nghiên cứu về các mặt hàng, sản phẩm, báo cáo, hình thức mua sản phẩm của khách hàng và các phương pháp xử lý dữ kiện và hệ thống nội tại đang sử dụng. Thiết lập hệ thống mới thay đổi hệ thống hiện tại bắt đầu từ giai đoạn thiết kế hệ thống và dựa trên nghiên cứu khả thi trong giai đoạn nghiên cứu. Công việc thiết kế cần quan tâm đến người sử dụng và điều hành hệ thống, tài liệu và hồ sơ sử dụng, thủ tục vận hành, các loại báo cáo cần thiết lập, các thiết bị sử dụng trong hệ thống. 2.2. 2.2.1. Giải pháp Bài toán được đặt ra Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phân tán nhằm quản lý phân phối sản phẩm bánh kẹo cho các đại lý hoặc giữa các công ty và đại lý. Dữ liệu phân tán về các đại lý thành viên, mỗi đại lý sẽ quản lý sản phẩm của mình và Công ty sẽ quản lý chung tất cả. Mỗi đại lý sẽ tự nhập các mặt hàng sản phẩm do đại lý của mình bán ra, và dữ liệu các sản phẩm bán ra, nhập vào sẽ được đưa về dữ liệu của sản phẩm tại công ty mà các đại lý phân phối. 2.2.2. Hướng xây dựng Mỗi đại lý là một nút mạng, có 1 server. Các server đó đồng bộ với nhau để có dữ liệu thống nhất, giúp cho việc tổng hợp và theo dõi số liệu của các sản phẩm. Hệ thống nhân viên tại các đại lý sẽ quản lý các mặt hàng của mình, do chính đại lý mình nhập hàng và bán ra với số liệu cụ thể. Nhóm 1:KTPM2-K6 Trang 14 Cơ Sở Dữ Liệu Phân Tán GVHD: Trần Thanh Hùng Dữ liệu được thiết kế trên hệ quản trị cơ sở SQL 2012, sử dụng cơ chế Replication. 2.3. Các đối tượng sử dụng 2.3.1. Ban quản lý công ty bánh kẹo 2.3.2. Quản lý chi nhánh 2.4. Phân tích hệ thống về mặt chức năng 2.4.1. Khảo sát hệ thống 2.4.2. Xác định các đối tượng của hệ thống - Nhân viên - Khách hàng - Sản phấm - Kế hoạch bán hàng - Quản lý 2.4.3. Xây dựng biểu đồ chức năng của hệ thống Nhóm 1:KTPM2-K6 Trang 15 Cơ Sở Dữ Liệu Phân Tán GVHD: Trần Thanh Hùng Quản lý phân phối bánh kẹo tại các đại lý Quản lý Nhân Viên Quản lý Khách hàng Tạo tài khoản Bán hàng Mua hàng Phân quyền sử dụng Nhập hàng Thanh toán hóa đơn mua hàng Quản lý cơ sở dữ liệu tại các máy trạm Thống kê số lượng sản phẩm Quản lý hệ thống Quản lý sản phẩm Báo cáo Chất lượng sản phẩm Tổng doanh thu Thành phần Các mặt hàng đã xuất nhiều nhất Khiếu nại Số lượng Đơn giá Hình 2-1. Biểu đồ phân rã chức năng Nhóm 1:KTPM2-K6 Trang 16 Dữ liệu về các sản phẩm

Bài tập lớn UML Quản lý cửa hàng bách hóa

Trên đây là các ca sử dụng được kích hoạt trực tiếp bởi các tác nhân, ngoài ra còn có các ca sử dụng được mở rộng (extend) hoặc bao gồm (include) bởi các ca sử dụng khác. Ca sử dụng Ca sử dụng nguồn Quản lý thông tin học sinh Quản lý bài giảng Điểm danh – Báo suất ăn Quản lý thu Quản lý chi Đăng nhập Quản lý thông tin hàng Lập thực đơn Quản lý thông tin giáo viên Phân công giảng dạy Lập kế hoạch triển khai Báo cáo – Thống kê Giải quyết đăng nhập lỗi Đăng nhập Báo cáo tình hình phát triển của trẻ Báo cáo – Thống kê thu chi Báo cáo – Thống kê Báo cáo – Thống kê thông tin hàng Báo cáo tình hình giảng dạy Lập kế hoạch triển khai Phân công giảng dạy Xem thông tin giáo viên Thêm thông tin giáo viên Quản lý thông tin giáo viên Cập nhật thông tin giáo viên Xóa thông tin giáo viên Xem thực đơn Thêm thực đơn Cập nhật thực đơn Lập thực đơn Xóa thực đơn 11 Thêm hàng Xem hàng Cập nhật hàng Quản lý thông tin hàng Xóa hàng Thêm phiếu chi Xem phiếu chi Cập nhật phiếu chi Quản lý chi Xóa phiếu chi Thêm phiếu thu Xem phiếu thu Cập nhật phiếu thu Quản lý thu Xóa phiếu thu Điểm danh – Báo suất ăn Thêm bài giảng Xem bài giảng Cập nhật bài giảng Quản lý bài giảng Xóa bài giảng Xem thông tin học sinh Cập nhật thông tin học sinh Xóa học sinh Quản lý thông tin học sinh Thêm học sinh 12 1.4.2 Biểu đồ ca sử dụng UC Ban giám hiệu UC Giáo Viên 13 UC Thủ Qũy 14 UC Thủ Kho UC Nhà bếp 15 1.5 Mô hình hóa lĩnh vực bài toán 1.5.1 Tìm các khái niệm Nội dung trình bày ở đây :Đưa ra các bước và phương pháp tìm cụ thể nào sinh viên áp dụng để tìm được các khái niệm của bài toán. Không phải tự nhiên đưa ra các khái niệm bằng cảm tính hay mò được các khái niệm này. Gán cách trách nhiệm cho các lớp vừa tìm được. (Kiểu Normal - Font Times New Roman 13, justified)  Tìm các khái niệm bằng cách tiếp cận theo cụm danh từ :  B1: Liệt kê các danh từ : Hệ thống (1) Người sử dụng (2) Quyền hạn (3) Người dùng (2) Ban giám hiệu(2) Giáo viên(2) Thủ quỹ(2) Thủ kho(2) Nhà bếp(2) Thông tin nhân viên(2) Phiếu thu Phiếu chi Thực đơn Suất ăn Địa chỉ Trình độ (2) Mục tiêu đào tạo (3) Báo cáo thống kê (1) Tài khoản(2) Hồ sơ giáo viên Trẻ em(3) Bài Gỉang Suất Ăn Thông tin trẻ em(3) Kế hoạch giảng dạy(3) Lớp Khoản thu  B2: loại bỏ các lớp giả(không thuộc phạm vi quản lý của hệ thống.) (1)  B3: đồng nhất các cụm từ đồng nghĩa (2) o Người sử dụng- người dùng- tài khoản = người dùng o Hồ sơ giáo viên- giáo viên- trình độ = giáo viên o Mục tiêu đào tạo = Kế hoạch giảng dạy = Bài giảng o Trẻ em – thông tin trẻ em = trẻ em  B4: Loại các danh từ là thuộc tính (3)  B5: Loại các lớp mờ- có khai niệm không rõ ràng, không biểu diễn một thực thể cụ thể nào.  Ta có danh sách các khái niệm: o Người dùng : Người sử dụng hệ thống 16

Bài tập lớn C Quản lý cửa hàng bách hóa

6. Xác định mục tiêu và ưu tiên Nhằm phục vụ khách hàng một cách tốt nhất, đồng thời giúp cho cửa hàng ngày càng phát triển, có điểm đứng trên thị trường, quản lý cửa hàng một cách hiểu quả, nhanh chóng giải quyết các công việc trong quá trình bán hàng. Dựa vào kiến thức đã học, phân tích thiết kế hệ thống quản lý bán hàng. Vì vậy mục tiêu cần đặt ra là: Xây dựng một hệ thống để đảm bảo quản lý các thông tin bán hàng và lưu trữ hàng hóa một cách chính xác, giúp cho việc quản lý cửa hàng trở nên dễ dàng, thuận tiện hơn. II. Phân tích và thiết kế về chức năng 1. Sơ đồ phân cấp chức năng 1.1 Sơ đồ 14 15 1.2 Mô tả chức năng a. Quản lý đơn đặt hàng Sau khi nhân viên có trách nhiệm lập đơn đặt hàng dựa vào báo cáo khảo sát thị trường và chi tiết hàng tồn trong kho, nhân viên sẽ báo cáo với nhà quản lý để nhà quản lý nắm bắt được tình hình hàng hóa trong cửa hàng và liên hệ với nhà cung cấp để nhập hàng. Khi nhập hàng về, nhân viên quản lý kiểm tra số lượng, nguồn hàng, chất lượng hàng thông qua đơn hàng. Sau đó tiến hành ký nhận, viết phiếu nhập và thanh toán, nhập hàng vào kho theo từng loại hàng rồi cập nhật vào cơ sở dữ liệu. b. Quản lý loại hàng Nhân viên kiểm tra số loại hàng, giá cả mỗi loại và lưu vào cơ sở dữ liệu để thống kê, sẽ thay đổi thông tin các loại hàng khi có sửa đổi. c. Quản lý hàng hóa Nhân viên kiểm tra số hàng hóa của từng loại, giá cả, số lượng và chất lượng của mỗi loại, rồi lưu vào cơ sở dữ liệu, sẽ sửa đổi thông tin từng loại hàng khi có thay đổi. d. Quản lý nhân viên Để theo dõi và quản lý nhân viên trong cửa hàng, cửa hàng thực hiện thêm mới vào danh sách khi có nhân viên mới được tuyển, sửa đổi thông tin khi có những biến đổi xảy ra và xóa bỏ nhân viên khi hết hợp đồng hoặc bị sa thải. Danh sách nhân viên mới sẽ được cập nhật liên tục hàng quý để có thể tìm kiếm nhân viên một cách dễ dàng khi có nhu cầu tìm kiếm. Các thông tin nhân viên bao gồm: mã nhân viên, tên nhân viên, điện thoại liên hệ, địa chỉ, giới tính. e. Quản lý bán hàng Khi khách hàng đến mua và yêu cầu, nhân viên sẽ kiểm tra lại hàng, nếu mặt hàng mà khách yêu cầu đã hết, hoặc không có bán tại cửa hàng sẽ tiến hành thông báo từ chối. Nếu mặt hàng khách yêu cầu được đáp ứng thì tiến hàng viết hóa đơn gửi cho 16 khách để khách hàng thanh toán và đồng thời lưu lại bản sao của hóa đơn vào cơ sở dữ liệu. f. Quản lý nhà cung cấp Cửa hàng có một hệ thống các nhà cung cấp chuyên cung cấp hàng hóa thường xuyên, đảm bảo hoạt động bán hàng luôn được diễn ra liên tục. Việc lưu trữ thông tin các nhà cung cấp giúp cửa hàng nhập hàng tin cậy, đảm bảo chất lượng hàng. Danh sách nhà cung cấp được cập nhật liên tục, thường xuyên giúp tìm kiếm nhà cung cấp nhanh chóng khi có yêu cầu tìm kiếm. Các thông tin nhà cung cấp bao gồm: Mã nhà cung cấp, tên nhà cung cấp, địa chỉ, điện thoại. g. Báo cáo thống kê Để theo dõi việc quá trình bán hàng trong cửa hàng, hàng tháng nhân viên lập các báo cáo gửi ban quản lý về doanh thu trong tháng về số lượng hàng tồn, số lượng hàng bán ra. Bên cạnh đó là thống kê danh sách nhân viên và thống kê nhà cung cấp khi có yêu cầu. Lập báo cáo theo quý để nhà quản lý có biện pháp điều chỉnh thích hợp. III. Phân tích và thiết kế dữ liệu 1. Mô hình thực thể liên kết STT Tên kiểu thực thể Khóa 1 Nhân viên MaNV 2 Loại hàng MaLoaiHàng 3 Hàng hóa MaHang 4 Nhà cung cấp MaNCC 17 5 Phiếu nhập MaPN 6 Hóa đơn MaHD 7 Tồn kho MaHang 8 Đơn đặt hàng MaDDH − Mô hình liên kết thực thể 18 2. Thiết kế cơ sở dữ liệu 1.3 Chuyển mô hình thực thể liên kết thành các bản ghi logic − − − − − − − − − − − NHÀ CUNG CẤP: MaNCC, TenNCC, DiaChi, SDT NHÂN VIÊN: MaNV, HoTenNV, GioiTinh, QueQuan, DienThoai LOẠI HÀNG: MaLoaiHang, TenLoaiHang HÀNG HÓA: MaHang, MaLoaiHang, TenHang, DonGia, DVTinh PHIẾU NHẬP: MaPN, NgayNhap, MaNCC HÓA ĐƠN: MaHD, MaNV, NgayThang. TỒN KHO: MaHang, NgayThang, SoLuong ĐƠN ĐẶT HÀNG: SoDH, NgayThang, MaNV, MaNCC CHI TIẾT ĐƠN ĐẶT HÀNG: MaHang, SoDH, SoLuong. CHI TIẾT PHIẾU NHẬP: MaHang, MaPN, SoLuong CHI TIẾT HÓA ĐƠN: MaHD, MaHang, SoLuong, GiaBan 19

Quản lý điểm tín chỉ trên hệ cơ sở dữ liệu trên ORACLE Server

Trường đại học công nghiệp hà nội – Khoa cntt Bảng 3. Thuộc tính bảng KHOA Stt Tên thuộc tính Kiểu Ràng buộc Khóa Mô tả 1 MaKhoa Nchar(10) Notnull Pk Mã khoa 2 TenKhoa Nvarchar2(50) Null Tên khoa 3 TruongKhoa Nvarchar2(50) Null Trưởng khoa Bảng 4. Thuộc tính bảng KHOAHOC Stt Tên thuộc tính Kiểu Ràng buộc Khóa Mô tả 1 MaKhoaHoc Nchar(10) Notnull Pk Mã khóa học 2 TenKhoa Nvarchar2(50) Null Tên khoa 3 NienKhoa Date Null Niên khóa Bảng 5. Thuộc tính bảng MONHOC Stt Tên thuộc tính Kiểu Ràng buộc Khóa Mô tả 1 MaMH Nchar(10) Notnull Pk Mã môn học 2 TenMH Nvarchar2(50) Null Tên môn học 3 SoTC Int Null Số tín chỉ Bảng 6. Thuộc tính bảng DIEM Stt Tên thuộc tính Kiểu Ràng buộc Khóa Mô tả 1 MaSV Mchar(10) Notnull Pk Mã sinh viên 2 MaMH Nchar(10) Notnull Pk Mã môn học Bài Tập Lớn_CSDL_Phân Tán_Nhóm 8_KTPM2_K6 Page Trường đại học công nghiệp hà nội – Khoa cntt 3 MaKhoaHoc Nchar(10) Notnull Pk Mã khóa học 4 DTL Int Null Điểm trên lớp 5 DT1 Int Null Điểm thi 1 6 DTB Int Null Điểm trung bình 7 DiemChu Text Null Điểm chữ 2.2. Mô hình CSDL phân tán Trạm 1 Trạm 2 2.3. Một số truy vấn phân tán 2.3.1. Các Proceduce nhập create procedure nhap_diem( masv nchar, mamh nchar, makhoahoc nchar, dtl float, Bài Tập Lớn_CSDL_Phân Tán_Nhóm 8_KTPM2_K6 Page Trường đại học công nghiệp hà nội – Khoa cntt dt1 float, dtb float, dchu nchar) as begin insert into DIEM values (masv, mamh,makhoahoc, dtl, dt1,dtb,dchu); end; create procedure nhap_sinhvien( masv nchar, tensv nvarchar2, gioitinh nvarchar2, ngaysinh date, diachi nvarchar2, malop nchar) as begin insert into SINHVIEN values (masv, tensv, gioitinh, TO_DATE(ngaysinh,''dd/mm/yyyy'', diachi, malop); end; create procedure nhap_lophoc( malop nchar, tenlop nvarchar2, Bài Tập Lớn_CSDL_Phân Tán_Nhóm 8_KTPM2_K6 Page Trường đại học công nghiệp hà nội – Khoa cntt GVCN nvarchar2, makhoa nchar, makhoahoc nchar) as begin insert into LOPHOC values (malop, tenlop, GVCN, makhoa, makhoahoc); end; create procedure nhap_monhoc( mamh nchar, tenmh nvarchar2, sotc int) as begin insert into MONHOC values (mamh, tenmh, sotc); end; create procedure nhap_khoa(… end; create procedure nhap_khoahoc(…. end; Bài Tập Lớn_CSDL_Phân Tán_Nhóm 8_KTPM2_K6 Page Trường đại học công nghiệp hà nội – Khoa cntt create procedure nhap_diemtl(… end; 2.3.2. Các Proceduce xóa create procedure xoa_diem( r_masv nchar, r_mamh nchar, r_makhoahoc nchar) as begin delete from DIEM where MaSV= r_masv and MaMH=r_mamh and MaKhoaHoc=r_makhoahoc; end; create procedure xoa_sinhvien() end; create procedure xoa_lophoc() from LOPHOC where malop=r_malop; end; Bài Tập Lớn_CSDL_Phân Tán_Nhóm 8_KTPM2_K6 Page Trường đại học công nghiệp hà nội – Khoa cntt create procedure xoa_monhoc(r_mamh nchar) end; create procedure xoa_khoa(r_makhoa nchar) as begin delete from KHOA where MaKhoa=r_makhoa; end; create procedure xoa_khoahoc(r_makhoahoc nchar) as begin delete from KHOAHOC where MaKhoaHoc=r_makhoahoc; end; create procedure xoa_diemtl(r_masv nchar,r_mamh nchar) as begin delete from DIEMTL where r_masv=MaSV and r_mamh= MaMH; end; 2.3.3. Các proceduce sửa Bài Tập Lớn_CSDL_Phân Tán_Nhóm 8_KTPM2_K6 Page

Đồ án Cơ sở dữ liệu phân tán Thuê nhà chung cư có soucer code

MHDL: Mô hình dữ liệu DBMS: Hệ quản trị cơ sở dữ liệu phân tán 1.4. Kiến trúc CSDL phân tán Sơ đồ pn đoạn Hệ thuần nhất Hệ không thuần nhất Sơ đồ 1.4. : Kiến trúc CSDL phân tán 1.4.1. Sơ đồ tổng thể Định nghĩa tất cả dữ liệu sẽ được lưu trữ trong CSDL phân tán. Trong mô hình quan hệ, sơ đồ tổng thể gồm định nghĩa của tập các quan hệ tổng thể. Tuy nhiên mô hình dữ liệu sử dụng để xác định sơ đồ toàn thể để xác định cách thức ánh xạ đến những mức khác của cơ sở dữ liệu phân tán. 1.4.2. Sơ đồ phân đoạn Mỗi quan hệ có thể chia ra các phần không chồng lên nhau gọi là đoạn. Có nhiều cách chia: chia theo chiều ngang, chia theo chiều dọc và chia theo kiểu hỗn hợp theo chiều ngang và chiều dọc. ánh xạ này giữa quan hệ và các đoạn được xác định trong sơ đồ phân đoạn. ánh xạ theo kiểu 1:n (một quan hệ sang nhiều đoạn) là một đoạn tương ứng một quan hệ và một 11 quan hệ tương đương với một số đoạn. Đoạn xác định bởi một quan hệ qua chỉ số (chỉ số đoạn dữ liệu). 1.4.3. Sơ đồ định vị Đoạn là phần logic của quan hệ, được đặt vật lý tại một hay vài vị trí trên mạng máy tính. Sơ đồ cấp phát xác định những vị trí đặt đoạn. Kiểu ánh xạ xác định trong sơ đồ cấp phát cho phép nhận ra một cơ sở dữ liệu phân tán là dư thừa hay không dư thừa. Thuật ngữ trong suốt mô tả bằng bản sao của đoạn tham chiếu đến vị trí lưu trữ và bản sao xác định qua tên quan hệ và hai chỉ số (chỉ số đoạn, chỉ số vị trí). 1.4.4. Sơ đồ ánh xạ địa phương Trong kiến trúc lược đồ trên có 3 mức độ độc lập theo thứ tự giảm dần: - Mức tổng thể Mức cấp phát Mức ánh xạ Vì vậy, mức thấp hơn cần thiết phải ánh xạ mức cao hơn. Việc ánh xạ gọi là sơ đồ ánh xạ và phụ thuộc vào kiểu cơ sở dữ liệu địa phương. Trong hệ CSDL phân tán thuấn nhất mức độc độc lập có một số kiểu khác nhau khi ánh xạ địa phương ở các vị trí khác nhau. Thực hiện ánh xạ các ảnh vật lý và các đối tượng được lưu trữ lại tại một trạm lên các CSDL địa phương. 1.4.5. Mức độ trong suốt phân tán - Trong suốt phân đoạn: Là mức độ cao nhất của mức độ trong suốt, người sử dụng hoặc chương trình ứng dụng chỉ làm việc trên các quan hệ cơ sở dữ liệu - Trong suốt định vị: Hệ thống yêu cầu người sử dụng hay chương trình ứng dụng phải làm việc trên đoạn logic, tuy nhiên người đó không biết đoạn đó được đặt ở vị trí nào trong cơ sở dữ liệu. - Trong suốt ánh xạ địa phương: Ứng dụng tham chiếu đến các đối tượng có các tên độc lập từ hệ thống cục bộ địa phương. Ứng dụng được cài đặt 12 trên một hệ thống không thuần nhất nhưng được sử dụng như một hệ thống nhất. - Trong suốt bản sao: Nó liên quan chặt chẽ với mức trong suốt định vị. Người sử dụng không biết bản sao của đoạn đặt ở vị trí nào. Thực tế thì người sử dụng không có mức trong suốt định vị nhưng lại có mức trong suốt bản sao. 1.5. Hệ quản trị CSDL phân tán Hệ quản trị cơ sở dữ liệu phân tán cung cấp công cụ như tạo lập và quản lý cơ sở dữ liệu phân tán. Những phần mềm cần thiết cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu phân tán là: - Phần quản lý cơ sở dữ liệu (Database Management - DB) Phần truyền thông dữ liệu (Data Communication - DC) Từ điển dữ liệu được mở rộng để hiện thông tin về phân tán dữ liệu trong mạng máy tính (Data Dictionary - DD) - Phần cơ sở dữ liệu phân tán (Distributed Database - DDB) Mô hình các thành phần của hệ quản trị cơ sở dữ liệu phát triển theo kiểu mô hình thương mại. (Truy cập từ xa trực tiếp). Sơ đồ 1.5. : Hệ quản trị CSDL phân tán Những dịch vụ hệ quản trị cơ sở dữ liệu cung cấp: - Cách thức truy cập dữ liệu từ xa: bằng chương trình ứng dụng. 13 - Lựa chọn cấp độ trong suốt phân tán thích hợp: cho phép mở rộng hệ thống theo nhiều cách khác nhau theo từng hoàn cảnh. - Quản trị và điều khiển cơ sở dữ liệu bao gồm công cụ quản lý cơ sở dữ liệu, tập hợp thông tin về các thao tác trên cơ sở dữ liệu và cung cấp thông tin tổng thể về file dữ liệu đặt ở các nơi trong hệ thống. - Điều khiển tương tranh và điều khiển phục hồi dữ liệu của giao tác phân tán. 1.6. Các mô hình phân tán dữ liệu trong Oracle 1.6.1. Phân tán dữ liệu hoàn toàn - Định nghĩa: Là phương pháp thực hiện phân chia bảng dữ liệu của quan hệ tổng thể thành các phần hoàn toàn độc lập với nhau, sau đó định vị chúng vào các vị trí thích hợp theo các ứng dụng và yêu cầu thực tế. (sử dụng kỹ thuật phân đoạn dọc). - Mô hình: Sơ đồ 1.6. : Phân tán dữ liệu hoàn toàn - Cách thức làm việc:  Mỗi khi vị trí 1 muốn truy cập CSDL của vị trí 2 thì thông qua database link vị trí 1 sẽ được đáp ứng qua đường truyền trực tiếp hoặc qua đường điện thoại.  Dữ liệu thực tế truyền thường lớn nên phương pháp này yêu cầu có đường truyền dữ liệu phải tốt. 14  Không có các vị trí chủ, vị trí trung tâm.  Khi cần tổng hợp dữ liệu thì có thể thực hiện tại bất kỳ vị trí nào trong hệ thống mạng của ứng dụng, dữ liệu sẽ hoàn toàn được truyền trực tiếp.  Cần có tối thiểu 2 Server để đảm bảo sự oan toàn cho hệ thống. - Ưu điểm:  Tính hiệu quả: ngăn cách được dữ liệu sử dùng người dùng.  Tối ưu hóa cục bộ: Dữ liệu lưu ở nơi thích hợp, tối ưu quá trình truy xuất dữ liệu cục bộ.  An toàn dữ liệu: Dữ liệu ko thích hợp thì bị vô hiệu hóa.  Xây dựng CSDL và các ứng dụng đơn giản.  Giảm mức độ dư thừa dữ liệu. - Nhược điểm:  Tốc độ truy cập không nhất quán: Khi truy cập vào dữ liệu không cục bộ thì thời gian sẽ lâu hơn so với dữ liệu cục bộ.  Việc sao lưu không thuận tiện: Nếu dữ liệ không được sao lưu thì mỗi khi có sự cố không thể truy cập được hoặc bị phá hỏng thì việc xử lý dữ liệu đó không thể chuyển sang vị trí khác mặc dù tại đó có tồn tại một bản copy của dữ liệu cần thiết.  Phạm vi phân tán hạn chế: do càng xa thì đường truyền càng kém. - Các ứng dụng phù hợp:  Các ứng dụng có CSDL vừa và nhỏ.  CSDL nó đã có sự phân chia thành các phần độc lập.  Có đường truyền tốt. 1.6.2. Phân tán Partition - Định nghĩa: Là phương pháp thực hiện phân chia bảng dữ liệu của quan hệ tổng thể thành các bảng dữ liệu độc lập nhưng có cấu trúc giống hệt nhau, sau đó định vị chúng vào các vị trí thích hợp. (sử dụng phân đoạn ngang cơ sở) - Mô hình: 15 Sơ đồ 1.6. : Phân tán Partition - Cách thức làm việc:  Các CSDL từ xa kết nối với nhau thông qua database link.  Tồn tại vị trí chủ, Server.  Trung tâm tổng hợp CSDL tại các chi nhánh qua các Snapshot.  Các chi nhánh là vị trí chủ, và trung tâm là vị trí ảnh.  Có thể có dữ liệu được cập nhật tại Server, các chi nhánh tra cứu sẽ qua Snapshot. Khi đó dữ liệu Server là vị trí chủ còn chi nhánh là ảnh.  Trước khi tổng hợp dữ liệu ở Server thì cần làm tươi toàn bộ dữ liệu.  Làm tươi: thường sử dụng phương pháp làm tươi nhanh.  Phải tồn tại 2 máy chủ để đảm bảo an toàn: 1 dự phòng, 1 chạy. - Ưu điểm:  Tránh thêm mới dữ liệu một hàng sai vị trí.  Cho phép thực hiện nhanh hơn các thao tác: Lấy dữ liệu, sửa, tạo index… tại từng Partition do đó giảm được thời gian xử lý dữ liệu. - Nhược điểm:  Thực hiện phân chia dữ liệu tương đối phức tạp. - Các ứng dụng phù hợp:  Các ứng dụng có lượng dữ liệu lớn  Các ứng dụng có phạm vi địa lý tương đối rộng.  Các dữ liệu ràng buộc bởi một số điều kiện khách quan. 16

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2016

Ngây ngất đặc sản đất Nam Định

Quê hương Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn níu chân du khách bằng nhiều đặc sản độc đáo đắm say lòng người.
1. Phở bò
Dẫu nhắc tới phở, nhiều người vẫn quen nhớ gọi tên Hà Nội nhưng ít ai biết nguồn gốc của phở ở Hà thành hay Nam Định cho tới nay vẫn còn là đề tài tranh cãi. Nếu phở Hà Nội phong phú, đa dạng nguyên liệu cũng như cách thưởng thức thì phở Nam Định chỉ là các biến tấu từ phở và thịt bò. Phở bò Nam Định được nấu theo công thức bí truyền của mỗi gia đình nhưng vẫn có nét đặc trưng ở nước dùng ngậy thơm đậm đà, bánh phở nhỏ sợi và thịt bò ngọt, mềm.
đặc sản, Nam Định, bánh nhãn, bánh gai, phở bò nam định, nem nắm, cá nướng úp chậu
Ngày nay, với bảng hiệu quảng cáo “Phở bò Nam Định” có mặt ở các đô thị lớn Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, hay ra cả nước ngoài, nhưng muốn ăn món phở bò ngon như danh tiếng lưu truyền, thì hãy một lần thưởng thức món phở bò Nam Định tại chính mảnh đất Nam Định.
2. Nem nắm Giao Thủy
Nem nắm là món ăn gần gũi với nhiều người, đặc biệt là cánh mày râu. Nem nắm được dùng làm mồi nhậu quen thuộc trong các cuộc vui dân dã. Nem Giao thủy là đặc sản đáng tự hào của huyện Giao Thủy, Nam Định.
đặc sản, Nam Định, bánh nhãn, bánh gai, phở bò nam định, nem nắm, cá nướng úp chậu
Nem nắm được chế biến từ thịt, bì lợn thái mỏng, trộn với thính gạo và các gia vị. Sợi nem Giao Thủy được thái mỏng bằng tay, không dùng máy như nhiều nơi, nên sợi nem mềm mà vẫn giòn và thấm gia vị. Khi ăn nem gói trong lá sung, lá đinh lăng, chấm với nước mắm Sa Châu (huyện Xuân Thủy) thì dậy lên hương vị đặc trưng, béo ngậy và ngọt.
3. Kẹo sìu châu
Đặc sản Nam Định trong trí nhớ của nhiều người có khi lại là vị ngọt ngào, giòn tan, bùi ngậy của những viên kẹo lạc sìu châu. Chỉ từ những hạt lạc, hạt vừng, qua bàn tay khéo léo của người dân xứ thành Nam đã tạo nên thứ quà quê đậm đà mà tinh khiết.
đặc sản, Nam Định, bánh nhãn, bánh gai, phở bò nam định, nem nắm, cá nướng úp chậu
Kẹo Sìu châu gần giống với kẹo lạc, nguyên liệu làm kẹo Sìu châu cũng tương tự gồm lạc, vừng, đường, mạch nha nhưng đặc sản Nam Định thường dùng nhiều lạc ít nha nên thơm và ngon hơn.
Kẹo sìu châu được ưa chuộng đặc biệt mỗi dịp Tết đến xuân về. Ăn miếng kẹo Sìu châu giòn tan, thơm bùi và ngọt thanh mà không dính răng. Thưởng thức kẹo cùng một chén trà nóng trong không khí se lạnh và lất phất mưa xuân thì ngon không gì bằng.
4. Kẹo dồi
Kẹo dồi có xuất xứ từ tỉnh Nam Định, ban đầu chỉ được bán trong các chợ ở một số làng quê trong tỉnh. Dần dần, nó đã trở thành một món quà quê, một đặc sản của vùng, tiến đến thành phố và tỏa đi nhiều nơi.Sở dĩ kẹo có cái tên thú vị như vậy bởi nó mang hình dạng giống như món dồi rất được ưa chuộng tại khu vực miền Bắc – Việt Nam.
đặc sản, Nam Định, bánh nhãn, bánh gai, phở bò nam định, nem nắm, cá nướng úp chậu
Kẹo có lớp vỏ màu trắng đục, giòn tan, bao tròn lấy nhân lạc rang bùi thơm, ăn không bị quá ngọt hay ngấy. Cùng với kẹo lạc, kẹo dồi là thứ quà nhâm nhi với nước chè xanh được nhiều người ưa chuộng.
5. Bánh nhãn Hải Hậu
Bánh nhãn không phải được làm từ long nhãn hay có hương thơm của nhãn mà chỉ đơn giản vì nó tròn và có màu giống quả nhãn. Bánh được làm từ một trong những sản phẩm nông sản của vùng đất nông nghiệp giàu có – loại gạo nếp hương hay nếp cái hoa vàng Hải Hậu từng nổi tiếng trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài.
đặc sản, Nam Định, bánh nhãn, bánh gai, phở bò nam định, nem nắm, cá nướng úp chậu
Nguyên liệu làm bánh cũng như các khâu chế biến đều được chọn lựa, thực hiện kĩ càng công phu. Gạo nếp, trứng gà, đường kính, mỡ lợn đều phải lựa loại ngon để bánh rán xong tròn trịa, màu giống quả nhãn và đều nhau nhìn bề ngoài có độ bóng. Khi ăn có độ giòn và có vị mát.
Ai đã từng thưởng thức bánh nhãn hẳn không quên hương vị thơm giòn, béo ngậy của bánh. Ngày nay bánh nhãn có mặt khắp nơi trong tỉnh Nam Định, góp phần làm phong phú thêm văn hóa ẩm thực của địa phương.
6. Bánh xíu páo
Bánh xíu páo là một trong những thức quà ngon, dân dã của người Hoa trước đây sống trên phố Khách (nay là phố Hoàng Văn Thụ, Lê Hồng Phong) thuộc tỉnh Nam Định. Bánh xíu páo có vỏ bóc được ra thành từng lớp như vỏ bánh pía, nhưng nhân bánh là nhân mặn gồm thịt xá xíu, mộc nhĩ, mỡ lợn, trứng gà….Chiếc bánh xíu páo chiên vàng ruộm từ lâu đã là món ăn vặt quen thuộc của nhiều thế hệ học sinh nơi đây.
đặc sản, Nam Định, bánh nhãn, bánh gai, phở bò nam định, nem nắm, cá nướng úp chậu
7. Bánh gai
Nam Định là mảnh đất sinh ra những chiếc bánh gai thơm ngon, dẻo ngọt và nó là thứ đặc sản tiêu biểu của đất Thành Nam này. Bánh gai Nam Định nổi tiếng nhất là Bánh gai Bà Thi. Đây là món bánh gai truyền thống giữ được hương vị nguyên bản của lá gai và gạo nếp. Cùng với nhân bánh là sự tổng hợp của nhiều nguyên liệu như đỗ xanh bỏ vỏ, thịt mỡ, lạc, sen, dừa… mỗi loại một chút nhưng những nguyên liệu đó đủ để hòa quyện vào nhau và tôn lên một mùi vị khác biệt, thơm ngậy và ngọt bùi.
đặc sản, Nam Định, bánh nhãn, bánh gai, phở bò nam định, nem nắm, cá nướng úp chậu
8. Cá nướng úp chậu
Cá nướng úp chậu chế biến cầu kỳ, thường chỉ được chuẩn bị trong những dịp lễ Tết đầu năm nhưng không vì thế mà mất đi tính đặc trưng của vùng đất Nam Định.
đặc sản, Nam Định, bánh nhãn, bánh gai, phở bò nam định, nem nắm, cá nướng úp chậu
Những ngày đầu xuân, vào bất cứ gia đình nào tại Nam Định, bên cạnh những món ăn truyền thống, bạn sẽ được chủ nhà mời một món cá nướng độc đáo này. Cá có phần da cá vàng ươm, giòn dai như mực nướng, phần thịt chắc nịch, thơm phức.
đặc sản, Nam Định, bánh nhãn, bánh gai, phở bò nam định, nem nắm, cá nướng úp chậu
Cá lựa con ngon, tươi rói đem úp trong một chiếc chậu chuyên dụng rồi được đốt rơm, om trấu trong khoảng 5 tiếng mới có thành phẩm. Cá hấp thụ nhiệt qua chậu nên không cháy, không chảy nước mà săn chắc tự nhiên rất thơm ngon.

Ngọt bùi hồn quê trong hương vị đặc sản bánh Rang Nam Định

Ở độ tuổi 75, ông Đồng Sơn, thị trấn Cát Thành, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, hàng ngày vẫn cần mẫn với công việc làm bánh Rang như hàng trăm người dân khác ở nơi đây.
Bánh Rang là một loại bánh truyền thống của người dân Cát Thành với nguyên liệu chính là gạo nếp, khoai sọ và vừng mang lại hương vị dẻo, bùi và thơm đặc biệt.
Ông Đồng Sơn được xem là một trong số ít những người lớn tuổi nhất thị trấn Cát Thành (xưa là làng Cát Chử) còn làm và giữ gìn nghề truyền thống làm bánh Rang ở thị trấn Cát Thành.
Bánh Rang Cát Thành là loại bánh đặc biệt, mang hương vị riêng của mảnh đất Cát Thành với lịch sử làng nghề hàng trăm năm nay. Đến nay, người dân nơi đây vẫn giữ nghề truyền thống với loại bánh đặc sắc, mang đặc trưng của miền Bắc.
Theo chân ông Đồng Sơn vào xưởng làm bánh, nghe ông nói về quy trình làm ra một mẻ bánh Rang mới thấy hết được sự cầu kỳ của loại bánh đặc biệt, duy nhất chỉ có ở Nam Định.
Điều đặc biệt của loại bánh này không chỉ nằm ở bí quyết trộn nguyên liệu gạo nếp và khoai sọ giúp làm tăng độ mềm, dẻo, bùi của bánh mà nó còn nằm ở các công đoạn làm ra chiếc bánh.
Ông Đồng Sơn cho hay, rất nhiều người không chỉ là người dân ở làng mà cả người trong và ngoài tỉnh đã đến tận nhà ông cả tháng để học làm bánh xong phần lớn đều thất bại bởi chỉ cần trộn sai tỷ lệ nguyên liệu hoặc một công đoạn nào đó làm chưa được khéo léo, tỉ mỉ hoặc đôi khi là do người làm nghề chưa thành thạo, chưa có bí quyết, kinh nghiệm thì rất dễ dẫn đến tình trạng bánh làm ra bị nhạt, bị hôi, khô và sạn.
Vì vậy, đã có không ít người đến tìm ông học nghề, song không mấy người làm được nghề, theo được nghề dù rằng ông đã chỉ bảo rất tận tình.
Theo ông Đồng Sơn, để làm ra được một chiếc bánh Rang với lớp vỏ bằng vừng trắng đều, không quá dày, cầm trên tay thấy xốp, ăn vào thấy mềm, thơm, ngậy, bùi, đòi hỏi người làm bánh phải rất kiên trì, nhẫn nại và quá trình làm bánh phải có độ chính xác cao.
Để hoàn thành một chiếc bánh Rang phải trải qua rất nhiều công đoạn và qua nhiều ngày. Đầu tiên, gạo nếp sau khi được lựa chọn kỹ sẽ cho vào ngâm nước qua đêm khoảng 10 tiếng, sau đó vớt gạo ra cho vào những chiếc nồi hơi lớn để đồ lên.
Trước khi được đồ, gạo đã được trộn với khoai sọ nghiền nhỏ với một tỷ lệ vừa phải, nếu tỷ lệ không chuẩn, cả mẻ bánh sẽ bị hỏng.
Nói về lý do cho khoai sọ nghiền vào cùng với gạo, ông Đồng Sơn cho biết chất nhựa trong khoai sọ sẽ giúp gạo dẻo hơn sau khi được đồ lên và bánh sẽ mềm hơn.
Sau khi đồ lần 1, nguyên liệu làm bánh được đổ ra, để cho thật nguội rồi sau đó tiếp tục cho vào nồi hơi đồ lên một lần nữa để đạt tới độ dẻo nhất định rồi lại đổ ra để nguội.
Lúc này, nguyên liệu được dàn thành mảng lớn và cắt thành từng miếng hình chữ nhật, hình vuông, hình bầu dục… với kích thước tùy chủ ý của người làm bánh và nhu cầu của khách hàng.
Tiếp đó, mẻ bánh được đem đi phơi từ 3-4 lần nắng (mỗi lần khoảng 2 giờ) rồi cất đi 3-4 ngày, sau đó mới được đem ra rán nổi trong mỡ rồi trộn với mật chưng và cuối cùng là lăn trong vừng để tạo lớp vỏ bánh hoàn chỉnh.
Ông Đồng Sơn cho biết công đoạn phơi nắng rất quan trọng, nó quyết định rất lớn đến độ mềm của bánh và thời hạn sử dụng của bánh. Bánh tốt nhất phải được phơi bằng nắng tự nhiên, không nên sử dụng điện nhân tạo để sấy bánh.
Phơi bằng nắng tự nhiên cũng phải để ý không được phơi lúc trời nắng quá hoặc thiếu ánh nắng. Thường thì một ngày chỉ có thể phơi vào hai thời điểm là nắng buổi sớm và nắng lúc xế chiều vì lúc này nắng nhẹ, không gay gắt, sẽ giúp cho bánh ngon hơn.
Theo ông Đồng Văn Nhân, một người làm bánh ở thị trấn Cát Thành, bánh Rang xưa kia chỉ có nhà giàu mới có điều kiện để làm hoặc mua để thưởng thức. Bánh thường được dùng nhiều vào dịp Tết, ăn cùng với bánh chưng hoặc trong dịp lễ hội đầu năm thường được đem ra mời khách thưởng thức cùng với ấm trà mạn thơm phức.
Đến nay, sau hàng trăm năm từ khi cụ tổ của làng đem nghề từ Hải Dương về đây, trải qua bao thăng trầm, người dân nơi đây tiếp tục làm nghề, giữ nghề làm bánh Rang và phát triển nghề ngày càng mạnh hơn.
Các sản phẩm của làng nghề hiện được xuất đi khắp mọi nơi, trở thành món quà Tết đặc biệt.
Nhiều năm nay, bánh Rang còn được bán ra nước ngoài, trở thành món quà mà nhiều người dùng để mang biếu giúp người ở xa đỡ nhớ hương vị quê hương từ vị bùi của những nguyên liệu đồng quê.
Mùa lễ hội đầu năm, không khí ở thị trấn Cát Thành lúc nào cũng tấp nập, nhộn nhịp. Một gia đình có từ 3-4 nhân công một ngày có thể cho ra 1 tạ bánh thành phẩm cung cấp cho thị trường.
Chủ cửa hàng Hồng Thơm, thị trấn Cát Thành chia sẻ: “Tết ra, dịp lễ hội đầu năm là thời điểm khách hàng mua bánh nhiều nhất để phục vụ cho các lễ hội đầu năm. Gia đình tôi mỗi ngày xuất bán đi ít nhất từ 30-40 tạ bánh. Bánh Rang là loại bánh dễ ăn, mang nét đặc trưng của hương vị quê hương nên rất được ưa chuộng. Bánh lại lành với nguyên liệu đơn giản, không pha tạp gì nên nhiều người rất yên tâm khi lựa chọn loại bánh này, ai về Nam Định tiện đường đều ghé qua Cát Thành mua bánh, vừa để ăn vừa để làm quà cho người thân, bạn bè.”
Trải qua biết bao thăng trầm, biết bao thế hệ người dân làm nghề nơi đây, những người làm bánh lâu năm ở Cát Thành giờ chỉ cần ngửi mùi bánh là có thể nhận ra bánh nào đạt tiêu chuẩn.
Những năm tháng làm nghề đã giúp họ không chỉ hiểu nghề mà còn yêu nghề, gắn bó với nghề và quan trọng hơn cả là cùng nhau giữ gìn nghề làm bánh Rang không chỉ là một công việc, một kế sinh nhai mà còn là nét đẹp văn hóa truyền thống của mảnh đất nơi đây cho các thế hệ sau này./.

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Sinh viên - bạn cần gì?

Gửi các bạn sinh viên những trăn trở của một người trẻ tuổi.
Giờ này có thể bạn đang ngủ rất ngon. Tôi thì không dù đồng hồ chỉ đúng 5h sáng. Mấy nay cứ trăn trở nhiều thứ, thức khuya lắm! Nhiều khi cũng thắc mắc không biết mình có phải 25 tuổi không? Thấy mình già so với tuổi quá.

 Đây không phải là một chủ đề to tát hoặc mới mẻ gì, nhưng tôi trăn trở nên chia sẻ, thế thôi!

 Tôi nhớ trong một tác phẩm nào đó của nhà văn Phan Việt có đoạn: “Nếu có một thời điểm nào đó trong cuộc sống, mà chúng ta cần phải và nên bị dúi xuống bùn lầy tăm tối, tốt nhất hãy chọn lúc 18 – 25 tuổi, lúc mà bạn có cả sức khỏe lẫn sự dẻo dai, cả hưng phấn lẫn thất vọng, cả niềm tin sắt đá lẫn sự ngoan cố mù quáng, cả sự hiểu biết bằng bản năng và trực giác chưa bị pha tạp lẫn sự tăm tối vì mơ hồ nhận thấy những lực cản của xã hội. Nghĩa là có tất cả mà lại chẳng có gì vững chắc”. Tôi hoàn toàn đồng ý với suy nghĩ của tác giả. Tôi đặt tên cho khoảng thời gian ấy là Tuổi Trẻ. Chẳng phải dưới 18 hoặc trên 25 thì không trẻ nữa, nhưng tôi thấy 8 năm ấy mới thật sự là đẹp nhất của giai đoạn tuổi trẻ. Ở cái tuổi ôm trọn thời sinh viên này, lẽ ra các bạn phải dấn thân thật nhiều, trằn trọc, suy tư thật nhiều về cuộc đời, về xã hội, về dân tộc,… thậm chí mất ăn mất ngủ, thao thức đêm dài.

 Có quá nhiều câu chuyện kể về những con người sinh ra trong hoàn cảnh nghèo khó, cùng cực để rồi họ có động lực vươn lên thành công. Tôi từng đọc và cả tiếp xúc với những con người ấy và tôi nghĩ: “Nếu ở trong hoàn cảnh đó, mình cũng sẽ có động lực vươn lên như họ thôi”. Hoặc cũng không thiếu những câu chuyện về những người thành công được sinh ra trong một nền tảng gia đình rất tốt, ba mẹ đều thành công và họ ý thức được tầm quan trọng của việc đầu tư vào giáo dục cho con cái. Tôi cũng biết và tiếp xúc với nhiều người thuộc nhóm này, rồi tôi cũng từng nghĩ: “Gia đình họ có điều kiện và nền tảng như vậy, việc họ thành công không có gì đáng ngạc nhiên cả”. Nếu bạn cũng có những suy nghĩ giống như tôi cho hai trường hợp trên, thì tôi chia sẻ rằng đó chỉ là sự biện hộ thôi. Cả hai nhóm người trên đều đáng ngưỡng mộ và trân trọng bởi họ đã nỗ lực vươn lên trong cuộc sống. Tôi thì thuộc nhóm người ở giữa và tôi nghĩ mình giống đa số các bạn. Nói một cách văn vẻ đây là nhóm người mắc kẹt ở mức trung bình về nhiều mặt. Gia đình tôi không giàu, nhưng cũng không quá nghèo (tuy là hơi nghèo vào cái thời đất nước còn khó khăn, gia đình nào cũng vậy thôi). Tôi học không xuất sắc, nhưng cũng không dở. Tôi không tự ti, nhưng cũng chẳng tự tin về mình lắm. Tôi không có nhiều mối quan hệ trong cuộc sống, nhưng cũng có không ít bạn bè,… Tôi nói như vậy chỉ để muốn chia sẻ với bạn rằng ai cũng có thể vươn lên cho dù xuất thân trong hoàn cảnh gia đình như thế nào, thành tích học tập ra sao, thông mình vừa vừa, thông minh kiệt xuất, hay ngu si đần độn,… Chỉ cần một tư duy đúng đắn, nuôi dưỡng khát vọng lớn và dám dấn thân lăn xả từng việc nhỏ bằng tất cả trách nhiệm của mình. Ai cũng có thể vươn lên!

 Cứ mỗi lần tiếp xúc với các bạn sinh viên là tôi lại đau đáu trong lòng. Những câu hỏi các bạn đặt ra cho tôi nhiều khi khiến tôi phát bực nhưng phải làm chủ cảm xúc để giữ thái độ bình tĩnh. Hoặc cũng không ít lần khi nghe hỏi xong, tôi chỉ biết cười trừ vì thật sự không biết phải trả lời sao cho thỏa đáng nữa. Tôi xót xa không biết tại sao những câu hỏi ấy lại được nêu lên dù biết là không nên vùi dập từ trong trứng nước, cần khuyến khích dám đặt câu hỏi khi có thắc mắc vì đó là cách rất hay để học hỏi. Nhưng thông qua những câu hỏi ấy, tôi thấy một thực trạng tư duy kém cỏi, thiển cận và bị động đang ăn sâu vào trong nhiều bạn sinh viên.

 Trong một lần tọa đàm thân mật với khoảng 20 bạn sinh viên đến từ nhiều trường đại học khác nhau, có một bạn sinh viên năm cuối khối ngành kinh tế hỏi tôi rằng: “Anh ơi, trong 4 năm học đại học, em không tham gia hoạt động hoặc đi làm thêm gì hết, vậy thì bây giờ em điền cái gì vào CV để xin việc đây anh?”. Khi tôi hỏi ngược lại những người tham dự hôm ấy là ai cũng ở trong tình trạng giống vậy, thì quá ngạc nhiên là khoảng 60% cánh tay giơ lên. Trời ơi! Tôi chỉ muốn hét thật to với nhóm bạn trẻ đó (may là tôi giữ được sự bình tĩnh để từ tốn chia sẻ): “Các em ơi, sao các em đi tìm một thứ mà chắn chắn là không có trên đời này vậy? Các em muốn thành công mà không phải trả giá? Các em muốn học giỏi mà không có những đêm thức trắng vùi đầu vào đèn sách sao? Làm gì có cái thứ đó trên đời này”. Tôi đang nói đến một tư duy vô cùng nguy hiểm ở các bạn sinh viên, tư duy mì ăn liền. Cái gì cũng muốn có ngay kết quả mà không phải bỏ công sức. Cái gì cũng muốn người ta mang đến dâng cho mình, ngồi rung đùi mà hưởng trái ngọt.

 Khi huấn luyện một khóa học với chủ đề “Sẵn sàng cho sự nghiệp”, tôi ngạc nhiên khi thấy có khá nhiều bạn sinh viên mong muốn bước vô khóa học để được nghe về cách trả lời phỏng vấn, cách viết CV sao cho hay, cách làm sao để thi đậu vào chương trình MT (Management Trainee – đây là một cuộc thi nhằm tìm kiếm những tài năng trẻ của các tập đoàn đa quốc gia rất được giới sinh viên quan tâm). Nói chung là các bạn cần những cái có thể xài được liền, tạo kết quả ngay tức thì. Thực dụng không có gì là xấu cả, tuy nhiên nó chỉ phát huy hiệu quả khi bạn có một nền tảng nhận thức vững chắc về sự nghiệp, về tư duy lãnh đạo, về phong cách làm việc, về văn hóa ứng xử nơi công sở,... Hay nói một cách khác là nội lực của bạn có mạnh thì kỹ năng mới phát huy tác dụng. Khi hỏi thăm thì tôi biết được các bạn rất ít tham gia vào những hoạt động xã hội, các câu lạc bộ đội nhóm và nỗ lực vươn lên nhiều vai trò lãnh đạo khác nhau. Vậy mà ai cũng muốn thi đậu vào MT? Tôi giả sử các bạn may mắn trả lời phỏng vấn tốt để vào được chương trình này, thì liệu bạn có “sống” và tỏa sáng được trong đó hay không là điều bạn cần suy nghĩ. Tôi rất tâm đắc với cách nhìn nhận của Chuyên gia giáo dục Giản Tư Trung rằng “Ta là sản phẩm của chính mình”, vậy thì cái sản phẩm BẠN ngày hôm nay có cạnh tranh được với những “đối thủ” khác về tư duy, nhận thức, thái độ, kiến thức, kỹ năng,… hay không? Đối với đồ ăn thì người ta cũng ráng suy nghĩ cho ra những phương cách “mì ăn liền” để đáp ứng với đỏi hỏi ngày càng gắt gao và cạnh tranh của xã hội, nhưng với thành công thì làm sao có thể như vậy được?

 Tư duy thứ hai là tư duy đòi hỏi. Các bạn đòi hỏi nhiều quá, nhiều hơn những gì các bạn bỏ ra. Các bạn sinh viên đa số đều rất tự tin về kiến thức của mình, đó là con dao hai lưỡi. Tự tin là tốt, nhưng tự tin bao nhiêu thì cần phải nỗ lực chui rèn bản thân không ngừng. Các bạn đang dán cái mác “ĐẠI học” quá lớn vào mình để kết luận rằng kiến thức đã đủ cho công việc và mình có quyền đòi hỏi công ty phải trả mức lương tương xứng với 4 năm dùi mãi kinh sử trên ghế nhà trường. Có nhiều bạn khi tôi hỏi về công việc bạn mong muốn sau khi ra trường, bạn mô tả muốn làm việc cho các tập đoàn đa quốc gia với thu nhập ít nhất là 800 USD/tháng. Tôi hỏi tiếp: “Vậy em có cái gì để người ta phải trả em 800 USD/tháng?”. Bạn… cứng họng!

 Các bạn ơi, mơ lớn là tốt. Bạn muốn mức lương bao nhiêu cũng được, không những 800 USD/tháng, mà thậm chí 8000 hay 80.000 USD cũng được. Nhưng, bạn cần phải trả lời câu hỏi là bạn có cái gì để người ta phải trả cho bạn mức lương đó? Bạn có nghĩ công việc photocopy cũng có thể làm xuất sắc hơn bình thường được hay không? Bạn phải thay thế tư duy đòi hỏi bằng một tinh thần cống hiến hăng say, không ngại việc, không chê việc, làm với tất trách nhiệm và chuẩn mực cao nhất để đổi lại kinh nghiệm và sự tín nhiệm. Chứng minh cho họ thấy đi đã, khoan đòi hỏi, rồi bạn sẽ được trả công xứng đáng sau này.

 Ngoài ra, các bạn chỉ muốn nhận mà không muốn trả giá. Từ “giá” ở đây tôi muốn nói ở cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Tôi diễn thuyết cho sinh viên khá nhiều, cái gì miễn phí thì bạn đến đông lắm. Nhưng cái gì cần một khoản đầu tư để học hỏi sâu hơn thì hình như với bạn nhiêu đó “hàng” miễn phí là đủ rồi. Bạn chê mắc, bạn tiếc tiền, bạn thấy không cần thiết. Rồi thì sau này cái giá mà bạn thật sự sẽ trả còn đắt hơn nhiều. Bạn tiếc tiền đầu tư vào bản thân thì xem như bạn cũng tiếc thành công.

 Cuối cùng, điều khiến tôi trăn trở nhiều nhất ở các bạn sinh viên là các bạn không có một khát vọng lớn. Cách đây hai tuần, tôi kết hợp với một tổ chức nhân sự uy tín để tổ chức một khóa huấn luyện dành cho những sinh viên đã qua chọn lọc, nhằm mục đích trang bị cho các bạn cách tư duy của một nhà lãnh đạo tương lai. Khóa huấn luyện kết thúc rồi nhưng dư âm của nó khiến tôi trằn trọc mãi. Tôi băn khoăn, lo ngại về Tuổi Trẻ hiện nay, lứa tuổi mà tôi cũng thuộc về. Rồi Việt Nam chúng ta sẽ ra sao khi mà những con người chủ nhân tương lai của đất nước lại có những suy nghĩ và biểu hiện như vậy? Trách ai bây giờ đây? Tôi không dám vơ đũa cả nắm, bởi tôi tin rằng vẫn có rất nhiều bạn trẻ đang từng ngày nỗ lực vươn lên với những khát vọng lớn lao, phục vụ trước hết cho đất nước, sau đó mới đến bản thân mình. Nhưng tôi muốn dấy lên một thực trạng đáng báo động ngày nay ở một số lượng lớn các bạn sinh viên: các bạn suy nghĩ nhỏ quá. Đó là chỉ mong làm sao có đủ tiền sống mỗi ngày; làm sao có thể thi đậu tốt nghiệp tốt nghiệp nếu không sẽ bị ba mẹ la; làm sao để có thể tìm được một công việc ổn định sau khi ra trường; làm sao có thể tự lo được cho bản thân sau khi tốt nghiệp,... Tôi cũng từng như vậy, y chang các bạn thôi. Nhưng bạn ơi, bạn cần biết rằng điều đáng sợ nhất của một đất nước không phải là nghèo nàn về tài nguyên khoáng sản; không phải là đất nhỏ ít dân; mà điều đáng sợ nhất là đất nước ấy chỉ tập hợp những con người không dám khát vọng lớn, không dám ước mơ lớn. Ai cũng muốn nước mình giàu mạnh, ai cũng muốn Việt Nam có thể vươn ra tầm châu lục, thậm chí là sân chơi toàn cầu; nhưng ai cũng suy nghĩ nhỏ nhặt, ai cũng chỉ nghĩ cho riêng cho bản thân mình thôi thì làm sao có thể cùng nắm tay nhau đi lên được đây? Bạn có thể trông chờ điều gì trong khi mỗi ngày mình chỉ biết la cà những quán café, quán nhậu, những thú vui cho quên đời quên sầu, giết thời gian. Tôi thật sự lo, lo lắm các bạn ạ!

 Than vãn rồi cũng thế thôi, bây giờ cần phải làm gì đây? Câu hỏi này quả là rất rộng và quá khó với tôi. Nhưng nếu chỉ được chọn một điều duy nhất để chia sẻ với sinh viên, trong giới hạn kinh nghiệm và hiểu biết của mình, tôi muốn nói rằng các bạn cần phải CHỦ ĐỘNG. Các bạn còn bị động quá, điển hình là mỗi khi tọa đàm (tức là một dạng hỏi đáp chia sẻ kinh nghiệm), tôi hỏi là có ai có câu hỏi gì không thì chỉ một sự im lặng đáng sợ xuất hiện. Tôi hỏi tại sao thì các bạn nói rằng đến đây để được nghe anh chia sẻ gì đó. Các bạn ơi, cần phải thay đổi tư duy ngay đi, CHỦ ĐỘNG lên. Đừng ngồi đó mà mong người ta đem thành công đến với bạn. Đừng chỉ biết nộp đơn rồi cầu mong nhà tuyển dụng gọi điện và mời bạn ký hợp đồng. Đừng mỗi ngày chỉ có đến trường rồi quay về nhà mà mong mình sẽ tỏa sáng trong sự nghiệp sau này. Đừng kêu than oán trách việc giáo dục đại học thế này thế kia, thiếu thực tiễn, toàn lý thuyết,… Ai cũng có công việc và trách nhiệm của họ thôi. Nhiệm vụ của bạn là học và hãy biết nỗ lực học một cách chủ động. Nó xuất phát từ ý thức “Ta là sản phẩm của chính mình” để chuyển vai trò đầy tớ sang vai trò ông chủ của quá trình học. Chính bạn mới là người đề ra những cái mình cần học dưới sự hướng dẫn của thầy cô hoặc những người trước, rồi nỗ lực học tập bằng phương pháp học sáng tạo. Sự học cũng cần mở rộng cách nhìn nhận. Không phải cứ phải có cái bàn, cái ghế, quyển vở, cây bút thì mới gọi là học. Học ở bất kì đâu, học từ bất kì ai. Chỉ cần một cái đầu rộng mở, chịu khó quan sát, trao đổi, đánh giá, phân tích, thắc mắc là được. Thay đổi cả hệ thống thì khó, nhưng thay đổi bắt đầu từ chính bản thân mình thì ai cũng làm được, chỉ là bạn có muốn hay không thôi?

 Vài Giai đoạn 18 – 25 thật đẹp, đừng phung phí thời gian để biến mình thành một thế hệ lu mờ của xã hội.

 5h sáng ngày 3/7/2012"

 By: Vũ Đức Trí Thể
Nguồn : Internet !

Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

Chúng ta có thể học gì từ người Nhật?

Chúng ta có thể học gì từ người Nhật? 

Có thể nói, Việt Nam là một dân tộc có mối thiện cảm rất tốt đẹp với người Nhật Bản. Không phải chỉ có thế hệ hôm nay mà từ lâu rồi, chúng ta đã phát hiện ra Nhật Bản là tấm gương để chấn hưng đất nước của mình. Cụ Phan Bội Châu và Hoàng thân Cường Để - một trong những thành viên rất quan trọng của Hoàng tộc nhà Nguyễn đã nhận ra tấm gương ấy. Trong bối cảnh hiện nay, kinh tế thế giới khủng hoảng, đất nước gặp nhiều khó khăn, chúng ta buộc phải có những thay đổi căn bản và quyết liệt. Nhìn nhận lại những bài học từ Nhật Bản là một việc giúp chúng ta có cái nhìn thực tiễn để bắt đầu cho sự đổi mới sâu sắc, toàn diện.

1. Học tính quyết liệt trong cải cách đời sống chính trị 

 Người Nhật có những đặc tính, những cách thức, những ưu điểm mà một dân tộc muốn phát triển không thể không có những thứ đó. Có thể nói, lịch sử hiện đại hoá nền chính trị, nền kinh tế và nền văn hóa Nhật Bản được tiến hành gần như song song hoặc nếu có chậm thì chỉ chậm hơn một chút so với việc thống nhất nước Mỹ. Còn ở Việt Nam chúng ta, mặc dù có Tự Đức là một vị vua tương đối tích cực, ông cũng có ý thức nhất định về việc đổi mới nền chính trị của đất nước, nhưng những đổi mới của ông mới chỉ là những dấu hiệu cải tiến về hình thức chứ chưa đạt đến sự thay đổi về bản chất. Trong khi đó, vua Minh Trị của Nhật Bản đã làm những cuộc cải cách lớn và triệt để cho nền chính trị Nhật Bản. Từ những cuộc cải cách này, Nhật Bản nhanh chóng vươn lên thành một cường quốc của thế giới. Đấy là một minh chứng cho thấy, chúng ta phải mạnh dạn nói rằng Việt Nam muốn ra khỏi tình trạng lạc hậu như hiện nay thì không có cách gì ngoài cải cách chính trị. Cho nên, học người Nhật trước hết là học tính quyết liệt trong cải cách đời sống chính trị, học sự dũng cảm của người Nhật trong cải cách chính trị theo hướng thừa nhận dân chủ.

 Cải cách chính trị là động lực quan trọng nhất, cơ bản nhất, nền tảng nhất và quyết định nhất đối với toàn bộ tiến trình phát triển, và phải cải cách chính trị theo hướng dân chủ hoá một cách hợp lý. Tại sao tôi lại dùng chữ "hợp lý"? Bởi vì đấy là một việc đòi hỏi đầu tư rất tốn kém. Để có được nền chính trị tiên tiến, trước hết chúng ta phải đầu tư vào giáo dục, đầu tư vào việc xây dựng các thể chế, đầu tư vào việc cải cách các cơ sở hạ tầng cơ bản. Tất cả những việc ấy đều tốn kém cho nên chúng ta không thể làm ồ ạt được. Làm cho tiên tiến một khu vực nhưng trong khi đó không đầu tư thoả đáng để làm tiên tiến các khu vực khác thì các khu vực được ưu tiên ấy trở thành miếng mồi xâu xé và không chừng nó còn gây mất đoàn kết xã hội.

 Nhiều người cho rằng, trong khi cải cách chính trị là cải cách ở tầng trên và bao giờ cũng chậm hơn ở dưới thì người dân phải biết lách luật để tạo ra những điều kiện cho sự thay đổi từ dưới lên, ví dụ khoán 10 là cách lách luật của người nông dân. Nhưng tôi cho rằng, đối với thân phận của một dân tộc, giải pháp phải có chiều dài lịch sử thoả đáng và phải dựa trên những nguyên lý triết học thoả đáng. Không thể tạo ra một lộ trình phát triển ổn định của một dân tộc bằng cách nhặt những yếu tố hợp lý mà nhân dân nghĩ ra. Những sự lách luật như vậy có thể đạt được một số kết quả có tính chất thực dụng, nhưng nó tàn phá nền văn hoá tôn trọng nhà nước và pháp luật, nó tạo ra một xã hội cơ hội và vô kỷ luật. Nó biến nhà nước trở thành một kẻ chờ đợi sáng kiến xã hội và cung cấp một dịch vụ để hợp pháp hoá những cái đó, và gọi đấy là thành tựu chính trị. Làm sao gọi những thành tựu được tạo ra trong trạng thái vô chính phủ của đời sống xã hội là tiến bộ xã hội được? Nếu chúng ta tự hào vì việc ấy thì chính chúng ta tự xác nhận mình là những kẻ phản tiến bộ. Tại sao chúng ta lại có một hệ thống chính sách để chúng ta phải lách nó? Tại sao sự tiến bộ của chúng ta lại phải được tạo ra bằng cách phá vỡ kỷ luật nhà nước? Nếu xét về phương diện lý thuyết thì đấy là những giải pháp hoàn toàn không có giá trị phổ quát. Bởi đem so những lợi ích thu được từ việc lách luật với sự tàn phá hiệu lực của nhà nước, cái nào quan trọng hơn? Một dân tộc trên quy mô nhà nước cũng như trên quy mô các bộ phận nhân dân mà được đào tạo trong những tình huống vô kỷ luật như vậy thì nó phá vỡ tiêu chuẩn cao nhất của lịch sử phát triển văn minh nhân loại, đó là sự tôn trọng các trật tự công cộng. Vì thế, cải cách chính trị không phải được tiến hành bằng những sự lách luật, nó phải được hoạch định trên cơ sở những nghiên cứu khoa học và những mục tiêu cụ thể.

 Nhiều người e ngại thừa nhận dân chủ thì mất dần giá trị, bản sắc của nền văn hoá của mình, mất cả quyền lãnh đạo của mình, đấy là sự suy nghĩ của những kẻ lười nhác.

Chúng ta đã thấy người Nhật không hề mất gì. Người Nhật trở thành một quốc gia phát triển nhờ sự dân chủ hoá xã hội của họ. Nếu không xác định được mục tiêu của cải cách chính trị ở Việt Nam là để dẫn tới dân chủ thì mọi cuộc cải cách, mọi sự đổi mới đều không có ý nghĩa. Dân chủ chính là xác lập những quy tắc công khai để kiểm soát quyền lực của nhà nước, bởi nếu nhà nước mà có quyền lực tuyệt đối thì mọi cố gắng đều không thể mang lại sự thay đổi nào đáng kể mà chỉ để giải quyết những vấn đề lặt vặt trước mắt mà thôi.

 2. Học cách tổ chức một xã hội nề nếp 

 Trong xã hội chúng ta hiện nay, có một số ý kiến mặc định rằng đặc tính của người Việt Nam là quá tự do, không chịu chấp hành quy tắc, khi bị chỉ trích, người Việt Nam thường phản ứng trước mà không chịu lắng nghe. Trong khi đó đặc tính của người Nhật là rất quy chuẩn và luôn tuân thủ nguyên tắc. Với những đặc điểm ấy, phải chăng sẽ rất khó để người Việt áp dụng được những bài học của người Nhật. Tôi không nghĩ vậy. Chúng ta đã có những người Việt viết hoa, chúng ta đã có những người Việt có giá trị. Nếu tiếp xúc với những thế hệ trí thức được đào tạo vào những năm 30 của thế kỷ trước, bất kỳ ai cũng có thể thấy đấy là những mẫu mực về nhân cách. Tôi có mặt ở Hà Nội ngay sau năm 1954, tôi biết người Việt Nam ở những năm 50 của thế kỷ trước không như vậy, và cả trước đó cũng thế. Người Việt Nam đã từng có những nề nếp, những quy chuẩn cực kỳ chặt chẽ. Trong gia đình, những hành động từ lúc ăn cơm cho đến lúc đi ngủ, lúc ngủ dậy, lúc uống trà, đều có các tiêu chuẩn văn minh của nó. Người Việt Nam chúng ta trước những năm 50 đã biết khẳng định giá trị bằng chất lượng các dịch vụ của mình. Chúng ta đã từng có một nền văn minh đòi hỏi chất lượng các dịch vụ: chất lượng dịch vụ làm con, chất lượng dịch vụ làm cha, chất lượng dịch vụ làm mẹ, chất lượng dịch vụ làm vợ, chất lượng dịch vụ làm quân, chất lượng dịch vụ làm quan. Tất nhiên nó cũng thay đổi cùng với thời gian, đặc biệt vào thời kỳ sau này, nó thay đổi với tốc độ tha hoá rất nhanh. Sau Đổi mới, từ năm 1986 đến 1995, chúng ta đi từ một xã hội nhốn nháo sang một xã hội tương đối nề nếp. Lúc ấy, chúng ta có một không gian chính trị chưa thể gọi là hoàn toàn tiến bộ, nhưng đấy là một không gian có nề nếp. Nhưng từ 1995 đến bây giờ, dường như chúng ta không giữ được như thế nữa, chúng ta bắt đầu tha hoá lại. Gần đây xã hội của chúng ta trở nên hết sức nhộn nhạo, ngay cả kỷ luật quan trọng nhất là kỷ luật của đời sống chính trị cũng có nhiều vấn đề. Chúng ta đang sống trong một không gian chính trị không nề nếp, trong đó, nhiều người không ý thức được nghĩa vụ, trách nhiệm và các giới hạn.

 Tuy nhiên, hiện tượng nhốn nháo hiện nay là sản phẩm của một giai đoạn văn hoá, nó không phải là sản phẩm của riêng dân tộc Việt Nam, nó không phải là đặc tính của bất kỳ dân tộc nào, nó là kết quả của sự thiếu tự do. Chúng ta bừa bãi chứ không phải tự do. Tự do có cả mặt quyền và mặt nghĩa vụ. Tự do là một không gian đã được nhân tạo hoá để nâng đỡ cảm hứng sống và phát triển, nhưng đồng thời cũng kiểm soát sự lộng hành. Cho nên phải nói rằng về mặt hình thức, đấy là một hiện tượng suy thoái như những gì chúng ta quan sát được, còn về bản chất, sự suy thoái ấy là do chúng ta đã phá vỡ các tiêu chuẩn văn minh mà xã hội từng có bằng chính trị. Chính trị đóng vai trò rất lớn trong việc xúc tiến sự tha hoá cũng như sự tiến bộ trong đời sống văn hoá, trong đời sống dân sự, cả trong nề nếp sinh hoạt của khu vực công cũng như khu vực tư.

Vì thế, cần phải cải cách thoả đáng đời sống chính trị để xây dựng lại ý thức tôn trọng trật tự công cộng, trong đó bao gồm cả trật tự sinh hoạt và trật tự văn hoá. Người ta phải biết kính trọng người cao tuổi, biết thương yêu trẻ con, biết kính trọng người tài, biết xấu hổ về việc mình dốt. Tóm lại phải biết hành động mà nền tảng của hành động là chính trị.

 Tôi nghĩ rằng không có bất kỳ cách gì để giữ gìn nề nếp, để giữ gìn nhân cách, để xây dựng một xã hội nề nếp nếu không bắt đầu từ cải cách chính trị. Không có cách gì trì hoãn cải cách chính trị mà có thể phát triển đời sống tinh thần của dân tộc để chúng ta trở thành một dân tộc đáng kính trọng. Nếu chúng ta không nhận ra điều ấy thì chúng ta không biết cách để phục hồi lại những giá trị đáng quý của dân tộc mình. Tất cả những việc đấy, người Nhật đã làm như một tấm gương.

Người Nhật tiến hành dân chủ hoá xã hội nhưng trong mọi cải cách, người Nhật vẫn giữ được những trật tự khẳng định tiêu chuẩn và khẳng định chất lượng của nền văn hoá Nhật Bản, vẫn giữ được chữ "Lễ". Lễ như một quy tắc giao tiếp để khẳng định những tiêu chuẩn xã hội. Tuy "Lễ" chỉ là hình thức nhưng chúng ta buộc phải làm và phải bắt đầu từ đấy. Học người Nhật, chúng ta phải học tính cội rễ của họ trong cải cách chứ không phải học việc lắp ráp những yếu tố có vẻ hợp lý vào thời điểm hiện nay. Học người Nhật là học cách tổ chức ra nền tự do trong những điều kiện nó không xâm hại và không làm biến mất những đặc trưng văn hoá. Tự do chính là công nghệ để trả lại cho con người năng lực hình thành những nhân cách thoả đáng với tương quan giữa họ và những dân tộc khác trên thế giới. Người Nhật biết tổ chức ra tự do trong điều kiện văn hoá của họ và họ thành công. Người Nhật là một trong những dân tộc thông minh để giữ được mình mà vẫn tự do, đấy là kinh nghiệm lớn nhất. Và những kinh nghiệm của người Nhật chỉ cho chúng ta thấy rằng, tự do không tàn phá bất kỳ phẩm hạnh nào, đặc tính nào của bất kỳ dân tộc nào, tự do chỉ xúc tiến để những đặc tính ấy, phẩm hạnh ấy đạt đến ngưỡng phát triển của nó một cách tự nhiên.

 3. Học sự tôn trọng con người 

 Khi nghiên cứu sự vi phạm về chất lượng của nền kinh tế và nền sản xuất ở các nước đang phát triển, tôi nhận ra rằng nguyên nhân chính là ở các nước này, nhân quyền chưa được tôn trọng. Có rất nhiều sự việc cho thấy điều ấy. Tại sao có hiện tượng bỏ melamine vào sữa, tại sao có hiện tượng nhiễm độc thực phẩm? Bởi vì con người không được giáo dục về nhân quyền, bởi vì con người chưa được tôn trọng. Hiện nay, chúng ta vi phạm những lợi ích của nông thôn, nông dân để đổi lấy một sự nghiệp công nghiệp hoá không có thành tựu. Về cơ bản, người tạo ra toàn bộ vinh quang cho hoạt động xuất khẩu của người Việt vẫn là người nông dân và người công nhân bán chuyên nghiệp có nguồn gốc nông dân, đó là những lực lượng cửu vạn trùng trùng điệp điệp. Và chính cuộc di dân vĩ đại đến các xí nghiệp ấy đã tạo ra các sản phẩm xuất khẩu mà chúng ta kể thành tích là xuất siêu. Bây giờ thử tìm xem liệu có người đô thị nào chấp nhận đi làm thợ may xuất khẩu đế lấy 700 – 800 nghìn/tháng không? Không có. Giai cấp công nhân quốc doanh mà chúng ta vẫn tự hào không tạo ra bất kỳ sản phẩm gì để xuất khẩu, còn giai cấp công nhân tạo ra thành tựu đổi mới, tạo ra thành tích xuất khẩu là giai cấp công nhân cửu vạn, đó là giai cấp hình thành bằng sự tàn phá cơ cấu xã hội nông thôn. Chúng ta thử nghĩ xem, trong điều kiện khủng hoảng, người nông dân không kiếm được công việc ở các đô thị công nghiệp nữa thì họ biết về đâu? Họ không thể quay trở về các sân golf được. Phải nói thật rằng đấy là một tình cảnh đáng khóc. Nhìn sang nước Nhật, chúng ta có thể thấy thái độ đối với con người của họ rất khác. Người Nhật không có những dòng di cư ngược như vậy, người Nhật chín chắn đến mức họ tạo ra giai cấp công nhân gắn bó với xí nghiệp đến mức thoái hoá. Con người lưu luyến công ty đến mức mấy thế hệ như vậy thì tức là chất lượng nhân văn trong chính sách xây dựng các công ty phải rất lớn. Tuy sự gắn bó mấy thế hệ ấy là tiền đề của sự thoái hoá năng lực sáng tạo và họ buộc phải cải cách lại một chút, nhưng về mặt công nghệ con người là họ đúng. Khi không tôn trọng nhân quyền và không giáo dục con người về nhân quyền thì người ta không thể sản xuất ra hàng hoá có chất lượng để phục vụ con người. Đã đến lúc chúng ta phải nhận thấy sự thiếu nhân quyền ảnh hưởng đến chất lượng của nền kinh tế và nền sản xuất như thế nào.

Vì thế, học người Nhật, chúng ta còn phải học thái độ tôn trọng con người, tôn trọng nhân dân của họ. Điều này thể hiện rõ trong chính sách ưu tiên chất lượng hàng nội địa của Nhật Bản. Hàng nội địa Nhật Bản bao giờ cũng tốt hơn hàng xuất khẩu. Người Nhật ở nước ngoài thường về nước để mua đồ dùng. Thái độ, chính sách tôn trọng quyền ưu tiên của người sản xuất như vậy chúng ta không có. Người làm ra sản phẩm phải được ăn cái ngon nhất, dùng cái tốt nhất. Vì con người không quen sử dụng cái tốt nhất thì không thể sản xuất ra cái tốt nhất được. Trong lúc ô tô lắp ráp trong nước không bán được, chúng ta vẫn nhập khẩu những xe tốt cùng hãng ở nước ngoài về. Bởi vì Toyota xuất Mỹ khác Toyota xuất Châu Âu, Toyota xuất Châu Âu thì khác Toyota xuất Bắc Á, cuối cùng mới là Toyota xuất khẩu khu vực Đông Nam Á. Chỉ nguyên một chính sách sai là tạo ra một dòng nhập khẩu, tức là tạo ra lỗ hổng để nhập siêu. Cho nên khắc phục nhập siêu không phải là kìm hãm hàng nhập khẩu, mà là ưu tiên những hàng hoá chất lượng được bán với giá hợp lý trong thị trường nội địa. Chú trọng xây dựng thị trường nội địa, chú trọng xây dựng nền kinh tế bản thể để tạo ra sự ổn định của đời sống xã hội chính một trong những cách thức quan trọng nhất tạo ra tiền đề căn bản để con người được tôn trọng.

 4. Học sự kiên nhẫn và ý chí của người Nhật Bản 

 Chúng ta đều biết rằng, sau chiến tranh thế giới thứ hai, là một nước thua trận, bị tàn phá nặng nề, Nhật Bản có nỗi đau khổ, nhục nhã của một nước thua trận, thậm chí đã có hàng vạn người Nhật tự sát. Nhưng Nhật Bản là một dân tộc kỳ lạ, họ thắng ngay sau khi thua. Gạt bỏ nỗi đau của kẻ thua trận và thừa nhận những sai lầm của mình, người Nhật dồn toàn tâm toàn ý xây dựng lại đất nước của mình từ sau thế chiến thứ hai. Họ sáng suốt đến mức chấp nhận trở thành một quốc gia không còn quyền lực chính trị. Họ đã từ chối một số trách nhiệm chính trị, hay nói cách khác, họ ra khỏi cái tiếng của cường quốc chính trị để làm giàu cho đất nước của mình. Họ "cho thuê" nền chính trị một thời gian để làm việc của mình, và bây giờ, họ được mời trở lại như một cường quốc chính trị, được khuyến khích, được thúc giục trở thành một cường quốc chính trị.

 Người Nhật lao động chuyên cần, tận tâm và nhiều sáng kiến

 Học tập người Nhật là học tập sự kiên nhẫn của họ. Từ chối một số trách nhiệm chính trị đối với thế giới nhưng không phải người Nhật không ý thức được nghĩa vụ của họ đối với các vấn đề phát triển. Năm 1985, trong triển lãm xuất khẩu của Nhật ở Tokyo, ông Kyosera - chủ tịch hãng đồ sứ lớn nhất của Nhật có một bài diễn văn khai mạc mà tôi không bao giờ quên được. Trong đó, khi nói về khoa học công nghệ, ông ấy nói rằng người Nhật đã sử dụng những tiến bộ kỹ thuật của thế giới cho sự phát triển của nước Nhật, và đã đến lúc nước Nhật phải trả lại cho thế giới những gì mà nước Nhật đã lấy. Cho nên nước Nhật phải tiên phong, phải đầu tư vào những nghiên cứu cơ bản để đóng góp nghĩa vụ của mình trong việc phát triển nền khoa học thế giới. Nước Nhật có những con người ý thức được cả những chuyện như vậy.

Chúng ta không phải không có những người tiên phong trong nhận thức, nhưng đôi khi chúng ta nhìn vào địa vị của người ta và bảo rằng anh không xứng để nói lên điều ấy mà không biết rằng, với tư cách là một nhà khoa học, người ta phải biết vượt qua các giới hạn. Nếu không có những con người bứt phá ra khỏi các giới hạn thông thường thì làm sao dân tộc chúng ta phát triển được? Người Nhật khiêm tốn nhưng họ đi hết từ giới hạn này đến giới hạn khác, họ phá vỡ mọi giới hạn để có những mặt vượt trên cả nước Mỹ, mặc dù họ ngoan ngoãn nằm dưới cái ô bảo hộ chính trị của nước Mỹ. Và người Mỹ kính trọng người Nhật vì họ biết rằng, ngoan ngoãn nấp dưới cái ô chính trị của nước Mỹ là một sự kiên nhẫn khổng lồ của một dân tộc có niềm tự hào ghê gớm. Học người Nhật chúng ta phải học cái tỷ trọng của lòng tự trọng dân tộc và cách thể hiện cơ bản là sự táo bạo trong ý nghĩ, sự kiên nhẫn và chăm chỉ trong làm việc. Chúng ta chưa thể nói chuyện học kỹ năng, vì chúng ta chưa có đủ phẩm chất để học ngay kỹ năng được. Chúng ta phải học cách hun đúc ý chí, hun đúc nhân cách của con người. Khi không giáo dục con người một cách toàn diện thì chúng ta sẽ có một cấu trúc xã hội không lành mạnh. Trên cơ sở cấu trúc không lành mạnh ấy thì không thể thiết kế ra chương trình phát triển nào lành mạnh được.

Hiện nay chúng ta chưa có đội ngũ những nhà công nghệ thật, chúng ta cũng chưa có đội ngũ những nhà tài chính thật, vì thế chúng ta chưa tạo ra được lực lượng trụ cột cho nền kinh tế Việt Nam. Nhưng người Việt Nam có năng lực phục vụ những trụ cột, người Việt Nam nếu có được một hệ thống giáo dục tốt thì sẽ cung cấp nhân công rất tốt, nhân công như một phương tiện kinh tế để tạo ra sự phát triển của Việt Nam. Chúng ta hãy kiên nhẫn chờ đợi một giai đoạn để củng cố xã hội dưới dạng đào tạo ra những người lao động có chuẩn mực về văn hoá, có chuẩn mực về xã hội, có chuẩn mực về giao tế, có chuẩn mực về nghề nghiệp, trên cơ sở đấy chúng ta mới có thể nói tới các công ty thật được. Nói cách khác, trong khi chưa cạnh tranh được với tư cách là công ty thì người Việt Nam phải cạnh tranh với tư cách là người lao động. Khi xã hội chưa tham gia cạnh tranh với tư cách của những người lao động cá thể thì mọi công ty chỉ là những kẻ phiêu lưu ở sòng bạc thế giới mà thôi. Chúng ta chưa có đủ phẩm chất để cạnh tranh với thế giới. Có cạnh tranh chẳng qua là người thợ của chúng ta khéo, đóng được những đôi giầy theo đúng tiêu chuẩn, may được những cái áo đúng chuẩn mực, nhưng đấy mới chỉ là xuất khẩu những năng lực thô sơ của người Việt, chưa có sản phẩm Việt Nam. Chúng ta chưa có năng lực để tạo ra cả công nghiệp lẫn tài chính.

Vì thế, chúng ta cần học tập ý chí của người Nhật, ý chí của họ hình thành và phát triển trong sự im lặng tuyệt đối của một dân tộc tự trọng. Không có sự yên tĩnh thì không có sự phát triển đích thực. Cái sai lầm của chúng ta là cứ tưởng thổi kèn to và đánh trống lớn thì tạo ra sự phát triển, đấy là sai lầm của một giai đoạn văn hoá.

 Kết luận 

 Giai đoạn từ năm 2009 trở đi được coi là một giai đoạn nhiều thử thách đối với Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Trước những khó khăn thách thức của khủng hoảng, của hội nhập quốc tế mà chúng ta không có một bộ máy đủ chuyên nghiệp, không có một tổ hợp kiến thức đủ chuyên nghiệp, không có một sự chuyển động linh hoạt đủ chuyên nghiệp thì chúng ta không thể ứng phó được, không thể thành công được. Cần phải nhận thức được đòi hỏi ấy. Để làm được điều đó, chúng ta không có cách nào khác ngoài một sự cải cách, đổi thay quyết liệt. Chúng ta cần học hỏi những bí quyết, những bài học mà các quốc gia phát triển đi trước đã làm. Nhật Bản là một tấm gương, chúng ta học Nhật Bản để phát triển, và hơn thế, xây dựng mối quan hệ tốt với Nhật Bản chính là một trong những yếu tố giúp chúng ta cân bằng với các quan hệ quốc tế quan trọng và khó khăn khác trong khu vực.


Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

Lời trăng trối của bác sĩ qua đời vì ung thư

Bác sĩ Richard Teo Keng Siang, 40 tuổi, triệu phú ngành giải phẫu thẩm mỹ ở Singapore, phát hiện bị ung thư phổi giai đoạn cuối khi ở đỉnh cao nhất của tiền tài, danh vọng.
Từ nhỏ, bác sĩ Richard Teo luôn đứng đầu trường trong mọi môn học, từ khoa học đến thể thao. Khi vào ngành y, ông chọn giải phẫu thẩm mỹ vì lợi nhuận của nó vượt qua các ngành nghề khác. Ông trở thành một triệu phú chóng vánh.
Tháng 3/2011, bác sĩ Richard Teo được chẩn đoán bị ung thư phổi giai đoạn cuối. Ông qua đời cuối năm 2012. Câu chuyện cảm động và những lời chia sẻ của ông trước khi mất vài ngày đã và đang được thanh niên khắp nơi theo dõi, lan truyền trên các trang mạng xã hội, được dịch ra nhiều thứ tiếng.
Dưới đây là trích đoạn những tâm sự của bác sĩ Richard Teo về tiền tài, danh vọng, hưởng thụ... với sinh viên tại khóa Nha khoa D1 ở Singapore, tháng 11/2011, 8 tháng sau khi bị chẩn đoán ung thư:
"Tôi lớn lên trong một gia đình có mức sống dưới trung bình. Tôi học được từ mọi người xung quanh và môi trường sống rằng có thành công thì mới hạnh phúc. Thành công có nghĩa là giàu có. Với suy nghĩ này, tôi luôn ganh đua ngay từ nhỏ.
Không chỉ học ở trường giỏi, tôi cần thành công trong mọi lĩnh vực, từ các hoạt động tập thể đến chạy đua. Tôi cần đoạt được cúp, phải được giải cao nhất. Tôi vào trường y và trở thành bác sĩ. Chắc một số em biết rằng trong ngành y, giải phẫu mắt là một trong những chuyên khoa khó vào nhất. Tôi đã vào được và đạt học bổng nghiên cứu của Đại học quốc gia Singapore.
dr-richard-teo1-9851-1404124250.jpg
Bác sĩ Richard Teo tại cơ sở phẫu thuật thẩm mỹ của mình trước khi biết bị ung thư. Ảnh: Richardteo.com.
Trong khi nghiên cứu, tôi có hai bằng phát minh, một về dụng cụ y khoa và một về tia lasers. Nhưng tất cả các thành tựu này không mang lại cho tôi sự giàu có. Sau khi học hoàn tất, tôi thấy theo đuổi ngành phẫu thuật mắt mất quá nhiều thời gian trong khi ra ngoài làm tư kiếm được nhiều tiền hơn. Tôi quyết định bỏ ngành giải phẫu mắt giữa chừng và nhảy qua mở trung tâm giải phẫu thẩm mỹ trong tỉnh.
Một người có thể không vui vẻ khi trả 20 USD cho một bác sĩ tổng quát nhưng không ngần ngại trả 10.000 USD để hút mỡ bụng, 15.000 USD sửa ngực… Do vậy, thay vì chữa bệnh, tôi quyết định trở thành người sửa sắc đẹp. Công việc làm ăn rất khấm khá. Bệnh nhân đến rất đông. Tôi mướn một, hai, ba rồi bốn bác sĩ. Chỉ trong vòng năm thứ nhất, chúng tôi đã lên hàng triệu phú. Nhưng chẳng thể nào là đủ vì tôi trở nên mê muội. Tôi bắt đầu bành trướng sang thị trường Indonesia để làm phẫu thuật cho những người giàu ở đó. Họ phung phí tiền bạc một cách dễ dàng. Làm tiền ở đó quá dễ...
Tôi làm gì với mớ tiền dư thừa? Cuối tuần tôi tiêu khiển ra sao? Thông thường tôi đến tụ tập tại câu lạc bộ đua xe hơi. Thỉnh thoảng tôi dự đua xe ở Sepang, Malaysia. Tôi mua một chiếc Ferrari 430. Sau khi có xe, tôi mua nhà, khu nghỉ mát. Tôi nghĩ phải hòa nhập với những người giàu có, nổi tiếng và bắt đầu giao tiếp với mỹ nhân, người giàu sang và danh tiếng, như hoa hậu thế giới hay người sáng lập mạng internet, ăn uống ở mọi nhà hàng kể cả nhà hàng nổi tiếng của đầu bếp Michelin.
Tôi đã có được mọi thứ trong cuộc sống, đến tột đỉnh của sự nghiệp. Đó là tôi của một năm trước đây. Khoảng tháng 3 năm ngoái, đột nhiên tôi bị đau lưng. Tôi nghĩ chắc tại mình hay vận động mạnh. Tôi đến Bệnh viện đa khoa Singapore và nhờ bạn học chụp cộng hưởng từ để xem có phải bị trật đốt sống hay không. Rồi tôi thực hiện PET scans và được phát hiện đang ở giai đoạn 4 của ung thư phổi. Tôi được cho biết, ngay cả với hóa trị, tôi cũng chỉ còn được 3,4 tháng tối đa. Tôi chán nản, tuyệt vọng.
Điều mâu thuẫn là mọi thứ tôi có - sự thành công, cúp thưởng, xe cộ, nhà cửa - tất cả những thứ tôi nghĩ mang hạnh phúc - khi tôi xuống tinh thần, tuyệt vọng, không mang đến cho tôi niềm vui. Tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari ngủ. Chúng không mang lại một sự an ủi nào trong những tháng cuối cùng của cuộc đời tôi. Điều thật sự mang lại cho tôi niềm vui trong mười tháng cuối cùng là tiếp xúc với người thân, bạn bè, những người chân thành chăm sóc tôi, cười và khóc cùng tôi. Họ có thể nhìn thấy sự đau đớn, chịu đựng mà tôi phải trải qua. 
Để tôi chia sẻ với các em một câu chuyện khác. Khi tôi bằng tuổi các em, tôi ở khu King Edward VII. Tôi có một người bạn khá lạ lùng tên là Jennifer. Khi chúng tôi đi bộ, nếu thấy một con ốc sên trên đường, cô ta sẽ nhặt nó lên và đặt lại trong thảm cỏ. Tôi thắc mắc tại sao phải làm thế, sao phải bẩn tay chỉ vì một con ốc sên? Sự thật là cô ta đã cảm được rằng con ốc có thể bị đạp nát chết nếu nằm đó. Đối với tôi, nếu không tránh đường thì đáng bị đạp nát, chỉ là luật tự nhiên thôi. Đối ngược nhau quá, phải không?
Tôi được huấn luyện thành bác sĩ để có từ tâm, đồng cảm nhưng tôi không có. Là một bác sĩ trực trong bệnh viện chuyên trị ung thư NUH (National University Hospital) tôi từng chứng kiến bao nhiêu người chết. Tôi đã thấy họ đau đớn và chịu sự tàn phá của cơ thể vì cơn đau. Tôi cũng đã chứng kiến bệnh nhân nhấn nút morphine tiêm vào máu từng giờ từng phút vì không chịu nổi sự đau đớn dày vò. Nhiều bệnh nhân phải dùng oxygene để thở hơi thở cuối cùng. Nhưng đó là công việc. Khi xong việc tôi chỉ muốn chạy ngay về nhà vì nghĩ là đã hoàn tất công việc hằng ngày.
Tôi thực sự không hiểu họ đau đớn như thế nào cho đến khi tôi là bệnh nhân. Nếu được làm lại từ đầu với cương vị một bác sĩ, tôi sẽ đổi khác. Vì tôi đã trải qua cơn đau đớn mà bệnh nhân vấp phải nên tôi rất hiểu họ chịu đựng sự dày vò của đau đớn như thế nào.
Ngay khi các em vào năm thứ nhất, bắt đầu hành trình để trở thành nha sĩ giải phẫu, cho phép tôi thử thách các em hai điều.
Hiển nhiên, tất cả các em ở đây sẽ bắt đầu đi làm tư. Các em sẽ thành giàu có. Tôi bảo đảm với các em rằng, chỉ trồng răng, các em kiếm được bạc ngàn, mớ tiền không tưởng được. Và thật ra, không có gì sai trái với thành công, giàu có. Điều phiền toái duy nhất là nhiều người chúng ta, như bản thân tôi, không thể kiềm chế được.
Tại sao tôi nói như vậy? Bởi vì càng tích tụ, càng có nhiều, tôi lại muốn nhiều hơn. Càng ham muốn, tôi càng trở nên mê muội. Tôi trở nên mê muội đến nỗi chẳng còn việc gì thành vấn đề đối với tôi nữa. Bệnh nhân chỉ là một nguồn lợi tức và tôi vắt cạn từng xu từ họ.
Nhiều khi chúng ta quên mất mình cần phục vụ ai. Chúng ta lầm lạc đến nỗi chẳng phục vụ ai ngoài chính mình. Điều đó đã xảy ra với tôi. Trong khi khám bệnh, đôi khi chúng ta khuyên bệnh nhân chữa trị bệnh không hẳn có, không rõ rệt và ngay cả khi không cần thiết.
Ngay tại thời điểm này, tôi biết ai là bạn tôi, chân thành lo lắng cho tôi và ai chỉ muốn làm tiền tôi bằng cách bán buôn “hy vọng” cho tôi. Chúng ta đánh mất lương tâm vì chúng ta chỉ muốn kiếm tiền.
Tệ hại hơn, tôi có thể kể cho các em nghe, vài năm vừa qua, chúng tôi đã nói xấu đồng nghiệp, hạ thấp họ xuống để nâng mình lên. Điều đó đang xảy ra trong ngành y và ở mọi nơi. Tôi thử thách các em không để đánh mất lương tâm mình. Tôi trả giá đắt cho bài học này. Và tôi hy vọng các em sẽ không bao giờ phải như vậy.
Thứ hai là đa số chúng ta khi bắt đầu công việc đều chưa có "cảm giác" đối với bệnh nhân. Cho dù trong bệnh viện hay nhà thương tư cũng có vô số bệnh nhân để chữa trị. Tôi chỉ muốn bệnh nhân rời phòng làm việc của tôi càng sớm càng tốt. Đó là sự thật và trở thành một công việc bình thường hằng ngày.
Tôi đã thực sự hiểu bệnh nhân nghĩ về mình thế nào chăng? Thực ra là không. Nỗi lo sợ và lo âu của bệnh nhân và những thứ khác mà họ đã trải qua. Thực ra tôi cũng không biết đến khi tôi lâm trọng bệnh và đó là một sai lầm to nhất của hệ thống y khoa tân tiến. Chúng ta được huấn luyện để trở thành những chuyên gia y cũng như nha khoa nhưng chúng ta lại không hiểu bệnh nhận cảm nhận chúng ta như thế nào.
Tôi không đòi hỏi các em phải xúc động, vì như vậy cũng không chuyên nghiệp, mà chỉ hỏi chúng ta có thật sự cố gắng tìm hiểu nỗi đau đớn của họ không? Phần lớn là không, tôi có thể chắc chắn như vây. Do đó, tôi thử thách các em luôn đặt mình vào cương vị của bệnh nhân.
Bởi vì sự đau đớn, nỗi lo lắng, sợ hãi rất thực với họ mặc dù không thực đối với các em. Ngay hiện giờ, tôi đang chữa hóa trị lần thứ 5. Tôi có thể cho các em biết nó rất kinh khủng. Hóa trị là thứ các em không muốn ngay cả kẻ thù của mình phải trải qua vì bị hành, đau đớn, ói mửa. Cảm giác khủng khiếp. Và bây giờ, với chút năng lực còn lại, tôi tìm đến các bệnh nhân ung thư khác vì tôi thật sự hiểu được họ đau đớn, chịu đựng như thế nào. Hơi muộn màng và ít ỏi.
Các em có cả tương lai sáng lạn phía trước với tất cả tài năng và nhiệt huyết. Tôi thử thách các em, ngoài bệnh nhân của mình, hiểu thêm rằng có nhiều người ngoài kia đang thật sự đau đớn, thật sự khó khăn, đừng nghĩ rằng chỉ có người nghèo mới phải khổ. Điều này không đúng. Những người nghèo khó vốn sẵn không có gì, họ dễ dàng chấp nhận. Do đó, họ hạnh phúc hơn các em và tôi. Nhưng có nhiều người đang đau khổ về tâm thần, thể xác, tình cảm, vật chất... Chúng ta lựa chọn làm lơ hoặc chúng ta không muốn biết đến sự hiện hữu của họ.
Do đó đừng quên, khi các em được thành danh, hãy với tay đến những người cần sự giúp đỡ. Bất cứ việc gì các em làm điều có thể mang đến sự khác biệt lớn cho họ. Bây giờ tôi ở vị trí của người tiếp nhận, tôi hiểu rõ, thấy khác khi có người thật sự chăm lo, khuyến khích mình. Nhờ vậy mà tôi vẫn có thể nói chuyện với các em hôm nay.
Mọi người đều biết rằng sẽ có ngày phải chết, chúng ta ai cũng biết như vây. Nhưng sự thật, không ai tin, vì nếu tin chúng ta đã sống một cách khác. Khi tôi phải đối diện với cái chết, tôi lột bỏ mọi thứ, chỉ tập trung vào thứ thiết yếu. Thật trái ngược rằng, chỉ khi sắp chết thì mình mới biết nên sống như thế nào. Tôi biết điều này nghe qua thật mơ hồ, nhưng đó là sự thật và tôi đang trải qua.
Đừng để xã hội bảo ban các em cách sống. Đừng để môi trường bắt các em phải làm gì. Điều này đã xảy ra cho tôi. Tôi tưởng như vậy là hạnh phúc. Tôi hy vọng các em suy nghĩ lại và sẽ tự quyết định cuộc sống của chính các em. Không phải do người khác bảo ban mà là các em quyết định, sống cho mình hay mang đến sự tốt đẹp cho đời sống của người khác. Hạnh phúc thật sự không có được khi chỉ sống cho mình. Sự thật không như tôi đã tưởng.
Tôi xin tóm lược, trong cuộc sống, chúng ta biết sắp xếp thứ tự trước sau càng sớm, càng tốt. Đừng giống như tôi. Tôi không còn cách nào khác và đã phải trả giá đắt cho bài học...".
Vương Linh (Theo Bacsinoitru.vn, heavenaddress.com)

Muốn vượt trội phải biết cách suy nghĩ khác biệt

Đây là một bài viết mình đọc hồi còn là sinh viên cách đây cũng đã 3 - 4 năm của anh Hùng viết trên duyhunghd6.net.

Theo cảm nhận của mình, bài viết đã phản ánh tương đối đúng về rất nhiều sinh viên công nghệ hiện nay.

 Mày học có vất vả không? - tôi hỏi thằng bạn thân của mình sau khi nó vừa trải qua 1 tháng chính thức là sinh viên Đại học Xây dựng (sau khi thi lại - và đã đỗ).

 - Bọn tao học từ thứ 2 đến thứ 7. Phải đi khắp nơi để vẽ cảnh.

 + Vất vả thế á. Chả bù cho bọn tao, chả phải học hành mấy. 1 tuần học có gần 30 tiết (cả thực hành), học được gần 3 tháng đã kết thúc một số môn và chuẩn bị làm bài tập lớn.

 Và tôi lại chợt nghĩ về câu nói của nó.

 Năm trước, nó đã đỗ ĐH Nông nghiệp và 1 trường cao đẳng. Nhưng nó chọn trường cao đẳng để học. Và nó đã tiết lộ, nó sẽ thi lại... Để lựa chọn ĐH Xây dựng. Cuối cùng nó đã hoàn thành được tâm nguyện của nó.

 + Mày có điên quá không?
 - Tao quen 1 anh, học năm thứ 3 trường xây dựng. Anh ấy đã đi làm thêm lương 3tr / tháng. Tao thấy có tương lai.

 Và khiến tôi suy nghĩ... năm thứ 3. Đi làm thêm đúng chuyên ngành lương 3tr / tháng. Chứng tỏ năng lực của anh ấy rất tốt.
 Nếu đặt địa vị của một sinh viên bình thường, sau 1 năm nữa. Dấu hỏi chấm rất lớn dành cho mình "có làm việc được không?"

 Một số câu trả lời thường gặp

 - Chỉ đơn giản là thi qua môn còn chật vật, huống chi là đi làm thêm nữa. Thời gian ở đâu ra mà học.
- Làm á? Làm cái gì nhỉ. Tôi còn chả biết mình đang học cái gì. Thì đi làm cái gì trong ngành học của mình được chứ.
- Năng lực của mình đã đủ đâu. Hơn nữa đặc thù công việc đòi hỏi rất khác so với những gì được học.
 - Hãy học tốt những gì được dạy trong trường ĐH, khi ra ngoài các công ty tuyển dụng bạn, họ sẽ đào tạo bạn để bạn có đủ khả năng làm việc...

 Còn những câu trả lời rất ít gặp được là:
 - Được chứ! Đi làm sẽ lấp trống thời gian rảnh (dành để ngủ, để chơi game, xem phim, đi chơi...) thay vào đó là một tư duy trong công việc và một phong cách công nghiệp.
- Sẽ khó khăn! Nhưng nếu đầu tư thời gian và có chiến lược học tập trong 1 quãng thời gian thì nhất định sẽ có đủ kiến thức... đủ để bắt đầu một công việc như thiết kế Web chẳng hạn.

 Đó chính là tâm lý chung của những đứa bạn mà tôi quen biết. Đã có người chọn Thiên ngọc minh uy (sinh lợi) để học hỏi & làm thêm. Nhưng tất cả những người đó, đều đã nhận 1 chung 1 kết quả. Chỉ có 2 chữ "đi xuống". Đã có người kiếm việc làm thêm như gia sư, hoặc đi tìm việc đơn giản ở các công ty máy tính. Nhưng đều gặp phải những khó khăn nhất định. Và chưa từng thấy ai có ý định làm thêm đúng ngành học của mình, hoặc có dự định làm việc ở ngành học của mình.

 Vì sao thế?

 1. Tư tưởng ỷ lại - bị động - chậm tiến:

 - Đến khi học môn Nhập môn tin học, mới học pascal.
- Đến khi kiểm tra lấy điểm 1 tiết mới ngồi code.
- Đến khi thi mới chịu ôn bài.

 Đó là tư tưởng phổ biến, và chắc chắn sẽ là tư tưởng chung của đại bộ phận sinh viên. Thấy có bạn học khá hơn, không lấy đó làm điều "cay cú", hay "ganh tị" để phấn đấu mà tự phụ bằng những câu quen thuộc:

 - Nó học trước mình từ lâu rồi nên giỏi thôi. Mình mà học lâu như nó thì cũng giỏi rồi. Kệ đi, chấp nhận.
- Nó được tạo điều kiện, có người hướng dẫn nên học khá hơn là đúng thôi. Biết sao được.

 Thời gian trong 1 kỳ học là quá dài, kiến thức thì quá nhiều, nhưng bài học thì lại quá ít

 Lại nhớ câu: "sinh viên cái gì cũng là tệ nhất".
Vì có ai quản giáo đâu, ai cũng được "thả rông" tùy ý làm theo những gì mình muốn. Ở cấp III còn có bố mẹ thúc giục, bắt ép đi học mới chịu đi.
Nhưng...
ĐH thì khác. Cũng chính vì lý do thời gian dành cho học tập ít nên thói quen ỷ lại, buông xuôi trở nên bành trướng. Bài học của một môn thì rất giới hạn, kiến thức rất rộng nằm ở các tài liệu tham khảo. Nhưng không được "chạm tới"...

 Hầu hết những sinh viên có thành tích học tập cao, là những người vượt qua được cửa ải "tự thả rông mình". Một phần lớn là thói quen hình thành từ trước - thói quen "không học không chịu được", "không để thua ai", "tự tạo động lực"...

 Càng nghiêm khắc với bản thân thì càng tốt.
Càng dễ tính với mình thì càng tệ vì vậy, muốn mình vượt trội.

Phải có một lối tư duy khác biệt.

 Tư tuy:
Mình luôn luôn phải là số 1

 - Khi mình thua kém người khác. Tuyệt đối đó là 1 điều sỉ nhục, phải phấn đấu bằng mọi giá.

 Dám vứt bỏ thời gian đi chơi, vứt bỏ thời gian chơi game, thời gian ngủ nướng. Để đầu tư cho học, đầu tư cho số 1 của mình. Thì mới có thể vượt trội được.

 Không vượt qua được ranh giới của chữ "chơi"' và chữ "học" thì mãi cũng chẳng khá lên được mấy. Có tiến cũng chỉ từng bước từng bước mà thôi.

 - Khi mình đang ở số 1: Phải phấn đấu bằng mọi giá giữ vững vị trí, và tăng cường khoảng cách với người số 2.
 Bạn là bạn thân, nhưng trong học tập... bạn sẽ là đối thủ mà bắt buộc mình phải vượt qua.

 2. Khó Tôi vẫn nhớ ngày lớp 10, tải về 1 phần mềm VF (Virtual Friend) - bạn chat ảo tiếng Việt. Do 1 anh sinh viên năm thứ 3 của trường ĐH bán công Tôn Đức Thắng viết.
 VF "nói chuyện" với 1 cách rất ngộ nghĩnh. Tôi đã ngồi hàng giờ để nói chuyện với cái máy và vọc nó. Tôi rất vui mừng khi anh đã gửi cho tôi xem mã nguồn của chương trình đó. Và thật thán phục anh ấy khi viết được 1 phần mềm "thông minh".

Và chợt nghĩ, có lẽ mình phải phấn đấu cả chục năm thì mới bằng anh ấy được. Tôi nhớ VF được viết bằng Visual Basic.NET trong bộ Visual Studio 2003. Nhưng khi nói chuyện với anh, anh trả lời 1 câu làm tôi nhớ rất rõ:

 - Viết nó không khó mà. Câu nói khiến tôi phải suy nghĩ. Chức năng của nó thật tuyệt vời, thật thông minh. Nếu là tôi thì có lẽ tôi sẽ không bao giờ dám nghĩ tới việc viết nó. Vì nó vượt quá xa so với năng lực của mình.
 Nhưng anh ấy cho biết: "Viết nó không khó"... Anh ấy sẽ không nói dối, sự thực viết nó không khó chứ? Và đến khi tôi hiểu được những dòng code của chương trình VF, thì tôi mới nhận ra, anh ấy đã nói đúng.
Nó không quá khó viết, đầu tư thời gian với 1 kiến thức nhất định là có thể code được ra nó.
 Và bài học tôi rút ra Con đường nào cũng là khó đi, nếu chỉ biết đứng ngoài nhìn vào. Không đi sao biết nó khó đi. Tại sao cứ dùng đôi mắt mà nhìn con đường đó rồi cho rằng nó khó đi. Đã đi đến đó chưa mà kêu nó khó đi. "Học Java khó lắm. Tôi chả muốn, thôi chọn PHP cho lành. PHP dễ hơn mà."

- Đã học Java chưa mà biết nó khó. Hay chỉ nghe người ta nói là Java khó rồi tự mình cũng đồng ý là nó khó. Nếu cái gì cũng nghĩ nó khó, rồi e dè khi đặt chân vào nó thì chỉ nhận được kết quả là "quay đầu là bờ" mà thôi. Muốn mình vượt trội. Phải nhìn sự vật bằng ánh mắt "cái gì cũng không quá khó" Học cũng không quá khó. Nghiên cứu công nghệ mới cũng không quá khó, vừa sức mình. Mình có thể làm được nếu đầu tư thời gian và có chiến lược nhất định.

 - Đã có người làm được một phần mềm chat, thì tôi cũng sẽ phải làm được. Đã có người thiết kế được 1 website rất đẹp, chức năng phong phú, cao cấp
 -> tôi cũng có thể làm được nếu lên kế hoạch và đầu tư thời gian.

 --- Chuyện của 1 năm trước --- -

"Mày lên nhà sửa hộ chú cái máy tính giúp chú với. Chẳng hiểu tại sao chú gõ dấu mà nó chẳng ra"... Tôi lặng lẽ sang nhà 1 ông chú hàng xóm, chỉ bấm tổ hợp phím Alt + Z để bật chức năng gõ tiếng Việt của Vietkey lên. Thế là 1 lỗi đã xong. Ông chú hàng xóm cảm phục khi thấy vừa mới đi học ĐẠI HỌC được vài tháng mà tôi đã trở thành 1 kỹ thuật viên máy tính giỏi trong mắt mọi người. Chú ấy có 1 đứa con, năm nay lên lớp 11, thế là cũng chuẩn bị cho nó chọn ngành để định hướng trường mà nó sẽ thi Đại học. Chú nấn ná hỏi tôi:

 - Cái ngành tin học này cháu theo, cháu thấy được chứ? Tôi ngậm ngùi:

 + "Dạ! Cũng được chú ạ. Nhìn chung là sẽ làm được nhiều thứ. Từ sửa máy tính, bán máy tính đến thiết kế mấy cái mẫu quảng cáo, thiết kế ảnh, hay thiết kế 1 hệ thống máy tính, hay làm ra 1 phần mềm gõ tiếng Việt, hay làm ra 1 phần mềm quản lý ... rất đa dạng."

 - Tôi nói vanh vách hệt như 1 chuyên gia CNTT - những thứ mà tôi đọc được trước khi thi ngành CNTT. - "Vậy năm đầu họ đã dạy cháu nhiều thứ như vậy rồi à. Sửa máy thành thạo thế cơ mà"... Đến lúc nghe thấy câu này thì tôi mới đặt ra một dấu hỏi chấm rất lớn cho bản thân mình - câu hỏi mà suốt 1 học kỳ trên trường ĐH tôi chưa kịp hỏi mình...

 - "Mình đã học được những gì thế nhỉ?" Và đến tận bây giờ, tôi vẫn luôn tự hỏi mình:

"Mình đã học được những gì?" Và chắc chắn phần lớn mọi người đều gặp phải 1 câu hỏi:

 "Mình đã học được những gì? Những thứ mình học được dùng để làm gì?"

 Tôi đố các bạn học Pascal mà đi sửa máy tính được, tôi đố các bạn học thiết kế Photoshop xong mà code được 1 chương trình liệt kê số nguyên tố.
Tôi cũng đố các bạn học xong ngôn ngữ lập trình C mà ngồi quản trị hệ thống CSDL được.

 3. Hãy biết mình đang học ... để làm việc:
 Vấn đề rất lớn mà ai ai cũng gặp phải Học một đằng, làm một nẻo Hay Chả biết mình sẽ làm gì khi tốt nghiệp

Tôi dành cho bạn 1 lời khuyên nho nhỏ, hãy tìm hiểu một số thông tin tuyển dụng về chuyên ngành mà mình đang theo học. Và hãy nhìn vào mục YÊU CẦU CHUNG của thông tin tuyển dụng đó. Từ đó tổng hợp lại thành 1 Categories (danh mục) những công việc mà mình có thể làm sau khi tốt nghiệp. Từ đó tìm hiểu từng công việc cụ thể, yêu cầu của từng công việc. hãy Làm gì học nấy

 Vì sao phải xã hội hóa giáo dục, một phần trong số những mặt tích cực của nó chính là để các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng tham gia vào quá trình đào tạo nhân lực. Từ đó nguồn nhân lực được định hướng theo đúng nhu cầu tuyển dụng, tạo nên một nguồn nhân lực chất lượng phục vụ hiệu quả quá trình hoạt động của chính doanh nghiệp.

 Nếu bạn hỏi:

 "Thế muốn có một tương lai sáng lạn, tôi phải chờ một doanh nghiệp tham gia vào trường mình, định hướng cho mình?"

 Tôi sẽ trả lời:

"Hãy làm thế, hãy chờ đợi khi bạn là một người lúc nào cũng thụ động, chỉ biết trông mong"

 Việc tìm hiểu nhu cầu của công việc tương lai, không chỉ giúp bạn nhìn thấy lối đi đúng đắn cho mình, giúp bạn có gấp đôi thời gian trau đồi kiến thức mà còn giúp bạn tự tin hơn rất nhiều - nhân tố cực kỳ quan trọng trong khi phỏng vấn xin việc và quá trình thăng tiến. Hãy thử trải nghiệm và cảm nhận nhé! Tôi cũng đã từng tham gia 1 số buổi giao lưu, trong đó có sự có mặt của đại diện một số doanh nghiệp trong ngành CNTT.

Khi được hỏi về việc định hướng nghề nghiệp.
Những câu trả lời mù mờ mà chúng tôi nhận được đều là:

 - Hãy học đi thật vững, rồi các bạn sẽ được học chạy khi đi xin việc ở các doanh nghiệp. (Học đi chính là học những gì mà bạn được học trong giáo trình Đại học, học chạy chính là tiếp cận các công nghệ ứng dụng trong công việc)

 Hãy nhìn câu hỏi:

 - Chúng em rất muốn biết mình sẽ làm gì khi ra trường và sẽ phải học như thế nào để tốt nghiệp có một công việc tốt.

 + Hãy học đi thật vững, rồi các bạn sẽ được học chạy khi đi xin việc ở các doanh nghiệp. Thoạt nhìn thì đây đúng là 1 câu trả lời hoàn hảo, nhưng thực chất nó chưa giúp chúng ta hiểu ra được 1 vấn đề: Làm sao để có thể học đi thật vững. Vì đâu có cái đích cho tôi đi đến. Tôi dám chắc chắn với các bạn rằng nếu cho tôi 1 cái đích, 1 mục tiêu tôi sẽ làm tốt hơn hẳn với việc cứ vừa đi vừa dò đường và chả biết mình đang đi ở đâu, sẽ đến đâu. Vì đơn giản 1 điều, học đâu chỉ lấy kiến thức. Chúng ta còn học cả khả năng tư duy đặc thù cho từng chuyên ngành. Nếu tôi học về CSDL, với đặc thù của việc phân tích thiết kế hệ thống

- tôi sẽ học 1 hướng khác. Nhưng với đặc thù của việc quản trị CSDL thì tôi sẽ học theo 1 hướng khác. Có bao nhiêu cái hướng cho 1 môn, và sẽ có bao nhiêu môn trong 1 chương trình đào tạo. Tôi sẽ đi đâu? Chính vì không được định hướng cho công việc rõ ràng nên cái đích của phần lớn sinh viên hiện nay là ĐIỂM. Học vì điểm ư??? Tôi chắc chắn với các bạn rằng, với 1 đề cương của 1 môn học. Với 1 số câu hỏi ôn tập nhất định, tôi chả cần lên lớp suốt 1 học kỳ, chỉ cần 1 tuần trước khi thi. Tôi cũng đủ sức vượt qua kỳ thi đó. Và bạn cũng thế! Học như thế, giỏi được sao?

 ---- Trích từ bài viết http://www.thongtincongnghe.com/article/7246
 Trao đổi với TS. Đồng Thị Bích Thuỷ, giám đốc trung tâm tin học của đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM nói:
“Tôi đang quan ngại về chất lượng của các cử nhân, kỹ sư ngành CNTT cho dù họ tốt nghiệp từ một trường đại học danh tiếng nào đó trong nước. Lỗi này không chỉ của sinh viên mà chính là lỗi của cả hệ thống giáo dục từ cấp cơ sở”.
Theo TS. Thuỷ, hiện naysinh viên chạy theo điểm số nên năng lực tư duy, phản biện yếu; chỉ khoảng 10% số sinh viên tốt nghiệp đúng với trình độ.